Tổng quan về rừng ngập mặn Việt Nam (Phần 3)

  28/05/2016

Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc (theo quyết định số 03/2001/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 5/1/2001) công bố tháng 7/2001 do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng tiến hành, diện tích rừng ngập mặn (RNM) Việt Nam tính đến ngày 21/12/1999 là 156.608ha. Trong đó diện tích RNM tự nhiên là 59.732ha chiếm 38,1% và diện tích RNM trồng là 96.876ha chiếm 61,95%. Trong số diện tích RNM trồng ở Việt Nam, rừng đước (Rhizophora apiculata) trồng chiếm 80.000ha (82,6%), còn lại 16.876ha là rừng trồng trang (Kandelia obovata), bần chua (Sonneratia caseolaris) và các loại cây ngập mặn trồng khác (17,4%) (Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, 2001).

III. Các mối đe doạ chính đối với rừng ngập mặn ven biển

Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế xã hội và môi trường, nhưng nhiều nhà quản lý, nhà qui hoạch và hoạch định chính sách vẫn chưa hiểu hết giá trị nhiều mặt của nó, nên bằng cách này hay cách khác  như cho đấu thầu đất làm đầm tôm, thiếu kiên quyết xử lý các vụ phá hoại, phát triển các khu công nghiệp, đô thị trên vùng rừng ngập mặn… gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với hệ sinh thái có năng suất cao nhưng rất nhạy cảm này.

Những mối đe doạ đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn rất đa dạng và phức tạp gồm cả các yếu tố tự nhiên và con người.

Bão lụt, sóng thần, nước biển dâng là những đe doạ bất thường, song cũng chỉ xẩy ra từng thời điểm, từng vị trí và mức độ đe doạ nhiều hay ít còn phụ thuộc vào không gian phân bố của thảm thực vật ngập mặn, thành phần, tuổi cây…

Còn tác động của con người, nhất là trong thời kỳ phát triển kinh tế đã trở thành những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự biến đổi, làm mất cân bằng và suy thoái của hệ sinh thái rừng ngập mặn, làm giảm đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật ven bờ nơi mà dân cư tập trung đông đúc. Chính vì vậy, con người đã trở thành mối đe doạ lớn nhất khi hành động của họ nhằm đạt được lợi ích trước mắt hoặc cục bộ.

3.1. Sức ép về dân số

Do tính đặc thù của vùng địa lý bị chia cắt bởi các sông và kênh rạch, nên thường những cộng đồng sống trong vùng rừng ngập mặn (RNM) không có điện, phương tiện giao thông khó khăn; các hoạt động tinh thần, văn hoá, thông tin rất hạn chế; thanh niên lập gia đình sớm, tỷ lệ sinh đẻ cao; ít hiểu biết về môi trường; địa bàn xa cơ quan quản lý nên việc chặt phá RNM là khó tránh khỏi nếu không có biện pháp cải thiện cuộc sống của họ và tuyên truyền giáo dục kịp thời.

3.2. Khai thác quá mức nguồn lợi sinh vật

3.2.1. Lâm sản

Trong những năm gần đây, mặc dầu RNM đã bị suy thoái nghiêm trọng, diện tích thu hẹp nhưng một số lâm trường (Cà Mâu) vẫn tiếp tục khai thác, nhiều gia đình ở Ngọc Hiển vẫn chặt trộm gỗ đước để đốt than.

3.2.2. Hải sản

Bên cạnh việc phá rừng vì các mục đích kinh tế thì việc khai thác hải sản quá mức trên các bãi lầy như đánh bắt cá bớp, cá thòi lòi, cua, còng, các loài thân mềm .v.v… khiến cho tài nguyên cạn kiệt, mất nơi kiếm ăn của chim nước, chim di cư trong đó có những loài quí, hiếm. Việc sử dụng các lưới vây mắt nhỏ quanh các RNM trồng, sử dụng xung điện, chất nổ trên các sông rạch đã làm cho nguồn lợi hải sản trong vùng RNM cạn kiệt. Cũng cần nói thêm là do chạy theo lợi nhuận trước mắt, không có qui hoạch tổng thể để phát triển sản xuất ở vùng ven biển nên nhiều địa phương đã và đang cho đấu thầu những diện tích lớn bãi triều lầy có RNM để làm đầm tôm; đấu thầu các bãi cát – bùn trước RNM để nuôi vạng, nghêu; thu hẹp nơi kiếm sống hàng ngày của người dân nghèo nên bắt buộc họ phải dùng một số dụng cụ có tính huỷ diệt để đánh bắt hải sản.

 

Hộp 3. Dùng bẫy tre đánh bắt huỷ diệt cá lác (thòi loi)Ở vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ, có tập quán dùng bẫy tre để bẫy cá thòi loi (Periopthalmus cantonensis) ở trên các bãi triều lầy trước RNM. Hàng ngày, buổi sáng, lúc nước triều rút hết, thì cá rời bỏ hang, bò lên mặt bãi triều kiếm ăn. Người ta đặt bẫy trên cửa hang và cá bị chẹt ngang cổ. Mỗi người có trên dưới 100 bẫy, sử dụng liên tục cho tới khi nước triều ngập bãi.Bằng cách tận thu triệt để chỉ sau một thời gian, phần lớn cá thòi loi ở các bãi triều RNM đã bị bắt hết.

 

3.2.3. Chim di cư

Mặc dầu một số tổ chức quốc tế như Tổ chức bảo vệ chim quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới đã cho xuất bản một số tài liệu về các động vật quí hiếm, các chim di cư cần bảo vệ, nhưng do các địa phương ven biển chưa quan tâm đúng mức, hoặc chưa quản lý nên tình trạng săn bắn trộm, dùng lưới để bẫy chim di cư, chim nước ở các vùng có RNM khá phổ biến. Đây là mối đe doạ lớn đối với các động vật quí hiếm của thế giới. Cần có biện pháp kịp thời để ngăn chặn.

3.3. Gây ô nhiễm môi trường

RNM ở các vùng cửa sông, ven biển là nơi hứng chịu các chất thải sinh hoạt, y tế, các chất hoá học dư thừa trong nông nghiệp như thuốc trừ sâu, phân hoá học. Phần lớn các chất thải công nghiệp chưa xử lý đều được đổ ra các cửa sông như khu công nghiệp Biên Hoà đổ ra các cửa sông Sài Gòn và Đồng Nai, khu công nghiệp Hải Phòng – Quảng Ninh đổ ra cửa sông Bạch Đằng làm giảm chất lượng nước, ảnh hưởng xấu đến các tài nguyên động thực vật vùng RNM.

Các vùng cửa sông cũng là nơi hoạt động của  tàu bè. Theo số liệu thống kê của Cục Môi trường (2002), từ năm 1995 đến tháng 6/2002 có 90 tai nạn tràn dầu với 92.420 tấn dầu tràn đổ ra vùng ven bờ và biển Đông. Nạn dầu tràn, đắm tàu, chở dầu ở khu vực RNM Cần Giờ đã làm cho một số rừng mới trồng chết, các bãi nuôi nghêu, sò huyết thiệt hại nặng. Nếu không có biện pháp quản lý tốt thì sẽ làm mất nguồn hải sản ở các vùng RNM và ảnh hưởng rõ rệt đến cuộc sống của người dân trong vùng.

Theo Phạm Văn Ninh (chủ biên, 1996) hàng năm nguồn chất thải chuyển qua một số sông chính ở miền Bắc như sau: đồng 2816 tấn, chì 730 tấn, cacdimi 118 tấn, kẽm 2015 tấn, cacbon 254 tấn, niken 142 tấn, asenic 448 tấn, thuỷ ngân 122 tấn, photphat 14860 tấn, nitrat 24602 tấn, amôn 352 tấn và DDT 400 tấn. Những kim loại nặng và các hợp chất độc hại này có ảnh hưởng lớn đến các sinh vật trong HSTRNM, khi con người ăn các động vật này cũng bị nhiễm độc.

Ô nhiễm đất

Việc chặt phá bừa bãi RNM ở một số địa phương cũng như việc phá RNM để sản xuất nông nghiệp, làm đầm nuôi tôm quảng canh đã biến loại đất mặn giàu chất dinh dưỡng thành đất phèn mặn (acid sulphat soil).

Trong đất ngập mặn giàu chất hữu cơ nhưng cũng giàu pirit (Fe2S). Khi mất lớp thực vật che phủ, bị phơi ra ngoài không khí, dưới tác động của nhiệt độ cao vào mùa khô, pirit bị oxy hoá thành dạng axit sulphuric (H2SO4). Axit này sẽ có tác dụng giải phóng các ion nhôm và sắt, có độc tính cao đối với thực vật. Trong điều kiện đó, phốtpho sẽ bị kết tủa dưới dạng phốtphat sắt và phốtphat nhôm không hoà tan, cây không hấp thụ được. Ngoài ra ion nhôm cũng rất độc đối với cá và động vật khác trong nước và trên bãi lầy (Birdlife International, 1999).

3.4. Đổ chất phế thải trong khai thác than đã vùi lấp các dải rừng ngập mặn

Ở Quảng Ninh có nhiều mỏ than lộ thiên sát ven biển hoặc sông nước mặn như: Hà Tu, Cẩm Phả, Mông Dương…. Khi khai thác than các xí nghiệp đổ vật phế thải xuống sông, biển lấp các bãi lầy có cây ngập mặn sinh sống. Việc xây dựng một số cảng than ở tỉnh này như cảng Uông Bí, Cửa Ông đã phá hủy nhiều đám RNM và hủy hoại các thảm cỏ biển và rạn san hô rất giàu động vật và hải sản ở vùng ven bờ và biển nông.

Việc khai thác than với tốc độ cao như hiện nay đang là mối đe doạ lớn đối với hệ sinh thái RNM ở một số địa phương trên vì lượng chất thải rất lớn vẫn tiếp tục đổ ra sông, biển hoặc do mưa làm xói mòn đất, than từ mỏ xuống các sông bé (ở Mông Dương) vùi lấp các những RNM ven sông và phá huỷ môi trường sống của các động vật hoang dã ở đó.

 

Hộp 4. Khai thác than phá huỷ các hệ sinh thái RNM ven biểnỞ Quảng Ninh có nhiều mỏ than lộ thiên sát ven biển hoặc sông nước mặn như: Hà Tu, Cẩm Phả, Mông Dương… Khi khai thác than các xí nghiệp đổ vật phế thải xuống sông, biển, lấp các bãi lầy có cây ngập mặn sinh sống. Việc xây dựng một số cảng than ở tỉnh này như Uông Bí, Cửa Ông đã phá huỷ nhiều RNM và huỷ hoại các thảm cỏ biển. Bụi than và chất phế thải đã huỷ diệt các rạn san hô sống, phá huỷ khu hệ động vật phong phú ở đây.(Ảnh: Phan Nguyên Hồng)

 

3.5. Phá rừng ngập mặn để phát triển đô thị, cảng biển

Trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá đất nước, nhều vùng RNM ở ven biển, cửa sông đã và đang bị lấp đất để xây dựng đô thị, khu công nghiệp, cảng biển như Nghi Sơn (Thanh Hoá), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Tuần Lễ (Khánh Hoà), thị xã Hà Tiên… Hiện nay diện tích RNM đã bị thu hẹp mạnh, nếu không có biện pháp bảo vệ những dải RNM còn lại ở một số địa phương thì không những làm mất đi nguồn tài nguyên quí giá mà còn mất cảnh quan đặc thù của vùng nhiệt đới. Hiện tượng xói lở bờ sông, bờ biển khó tránh khỏi, kinh phí để chống xói lở có thể gấp hàng trăm lần tiền trồng và bảo vệ rừng ngập mặn.

3.6. Phá rừng ngập mặn để làm đầm tôm

Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi tôm đã có những tác động nghiêm trọng đến hệ sinh thái RNM của Việt Nam (EJF, 2003).

Chỉ trong hai thập kỷ vừa qua hơn 200.000 ha RNM đã bị phá hoại, bị ngâm nước chết để làm đầm tôm (Hồng, 2003). Trong những năm đầu của thế kỷ 21, phong trào nuôi tôm nước lợ tiếp tục được nhà nước khuyến khích, cho nên ở một số địa phương hiện tượng phá RNM bất hợp pháp để làm đầm tôm trong đó một phần là rừng phòng hộ, là khu bảo tồn thiên nhiên như Khu bảo tồn Đất Mũi, các sân chim ở Bạc Liêu, Cà Mâu đang tiếp tục diễn ra rất sôi động.

Tình hình này đang là mối đe doạ lớn nhất đối với hệ sinh thái RNM và môi trường ven biển.

3.6.1. Phát triển nghề nuôi tôm ở vùng rừng ngập mặn làm suy giảm tài nguyên đa dạng sinh học

Mất RNM là mất nơi sống, nơi sinh sản, vườm ươm của nhiều loài động vật dưới nước và trên cạn. Một số nghiên cứu trước đây đã chỉ rõ điều đó. Ở phía tây nam mũi Cà Mau chỉ sau 1 năm đắp đầm tôm, trong đầm chỉ còn 2 loài động vật đáy với số lượng cá thể có rất ít, trong lúc ở bãi triều sát đầm có 22 loài với nhiều cá thể (Hồng và An, 1992). Nghiên cứu đầm tôm bỏ hoang ở cửa Nam Triệu (Hải Phòng) (trên đất RNM) cho thấy sinh khối động vật đáy giảm tới 9 lần so với vùng lân cận còn RNM (Trọng và Hồng, 2001).

Trong những năm 1980, cua giống ở ven biển đồng bằng Bắc Bộ rất ít phải mua ở miền Trung. Sau khi phục hồi RNM, lượng cua giống ngày càng nhiều. Rất nhiều gia đình đã giàu lên nhờ bắt cua giống bán (Thọ và cs, 2003).

Nếu RNM tiếp tục bị phá làm đầm nuôi tôm thì các hải sản và nguồn giống tôm, cua cũng không còn.

Trước đây, nhiều loại chim di cư về trú đông và kiếm ăn ở các vùng cửa sông ven biển có RNM. Đáng lo ngại nhất là sân chim Bạc Liêu, nơi trước đây có hàng vạn cá thể các loài chim nước, chim di cư. Mặc dầu được nhà nước đầu tư mở rộng diện tích vùng đệm, nhưng phong trào nuôi tôm tự phát của một số người ở địa phương đang lấn dần diện tích Khu bảo tồn. Việc đào mương dẫn nước mặn vào vùng đệm đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường sống của chim ở vùng lõi, một số cây là nơi làm tổ của chim như tra lâm vồ bị chết, chim không đủ nước ngọt để uống, các hoạt động của máy bơm xục khí đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến chim non, .v.v… Sau khi phá RNM, các loài chim và một số bò sát cũng biến mất.

3.6.2. Sử dụng các hoá chất tác động đến các sinh vật trong vùng rừng ngập mặn

Do việc sử dụng hoá chất ở các trại tôm bán công nghiệp và công nghiệp thiếu kiểm soát như thuốc sát trùng, chất kháng sinh chloramphenicol, phân bón, thuốc trừ sâu, hoóc môn tăng trưởng cùng với các chất thải khác như thức ăn dư thừa, phân, CO2, amoniac, các kim loại nặng từ các đầm tôm được nước triều đem vào các cửa sông, kênh, rạch và vùng RNM đã phá huỷ chu trình dinh dưỡng trong hệ sinh thái RNM, vì các chất này gây hại đến hệ vi sinh vật rất phong phú, nhưng rất quan trọng trong nước biển. Hậu quả là nhiều động vật ăn mùn bã không sống được và ảnh hưởng dây chuyền đến các động vật ăn thịt, những loài hải sản có giá trị cao ở vùng RNM.

3.6.3. Dịch bệnh gây tác hại đến các động vật trong vùng

Nuôi tôm trong đất đã chặt hết cây ngập mặn hoặc đã giết chết hết cây ngập mặn bằng cách giữ nước trong đầm làm cho môi trường thoái hoá nhanh. Trước hết các bộ phận cây chết bị phân huỷ trong điều kiện yếm khí sẽ tạo ra H2S và NH4 đầu độc các sinh vật sống trong đầm, kể cả các tảo phù du là thức ăn và nguồn cung cấp oxi cho tôm. Đất trong đầm chứa nhiều pirit dưới tác động của không khí và nhiệt độ cao kéo dài sẽ tạo ra H2SO4 – gây hại cho tôm và các sinh vật khác. Ngoài các điều kiện tự nhiên trên đây, mật độ tôm quá dày, chế độ ăn không thích hợp cùng với các nguồn giống không chọn lọc sẽ tạo điều kiện cho bệnh ở tôm phát triển.

Môi trường chứa các mầm bệnh này được thải ra các kênh rạch và gây hại không chỉ cho tôm nuôi mà cả nhiều động vật khác trong vùng.

Một hiện tượng khá phổ biến ở các đầm nuôi tôm quảng canh của cả miền Bắc và miền Nam là có nhiều tảo dao động như Oscillatoria subbrevis, O. limota. Các loài tảo này thường phát triển thành lớp dầy nhờn, màu lục, nổi thành vùng tảo lab-lab trên mặt đầm. Khi trời nắng nhất là vào mùa mưa, chúng tiêu thụ một số lượng lớn chất dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự phát triển của các thực vật phù du. Mặt khác khi chúng chết sẽ làm mặt nước trong đầm bị thối, lượng ôxy hòa tan giảm, góp phần làm cho chất lượng nước bị thoái hóa nhanh. Khi tháo nước đầm, đánh bắt tôm cua, nước có các chất độc hại trên chảy ra sông, rạch và các đầm tôm ở khu vực lân cận, làm ô nhiễm cả vùng rộng lớn xung quanh. Một số động vật phải di chuyển đi chỗ khác. Một số động vật đáy hấp thụ các chất độc hại cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng hoặc chết dần.

Theo Lê Diên Dực (1996), bệnh sốt rét có thể bùng phát do mất RNM vì ấu trùng của loài muỗi sốt rét nước lợ (Anopheles sinensis) sống trong RNM, ăn tảo tiểu cầu Chlorella – tảo này chỉ phát triển mạnh nếu đủ ánh sáng. Khi RNM còn tốt thì tảo không phát triển nên số lượng muỗi hạn chế, ngược lại khi mất rừng thì bệnh sốt rét có  nguy cơ bột phát. Thực tế đã chứng minh hiện tượng trên là đúng. Ở huyện Bình Đại – Bến Tre và ở Ngọc Hiển – Cà Mau, vào những năm 1975, 1976, bệnh sốt rét phát triển vì phần lớn RNM bị chất độc hoá học huỷ diệt (Hồng (chủ biên), 1999).

3.6.4. Xói lở bờ biển, bờ sông, các hồ chứa

Tình trạng chặt phá RNM để làm đầm tôm đang gây ra xói lở ở các vùng bờ biển, cửa sông như Cửa Hội (Hà Tĩnh), cửa sông Trần Đê (Sóc Trăng), bờ đầm Nại (Ninh Thuận).v.v…

3.7. Buông lỏng quản lý, chạy theo nguồn lợi trước mắt

Các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương chưa đánh giá đúng vai trò to lớn của hệ sinh thái RNM; buông lỏng quản lý trong việc sử dụng tài nguyên vùng ven biển có RNM; không kiên quyết xử lý việc phá rừng để nuôi tôm. Nhiều địa phương chỉ chú trọng đến lợi ích trước mắt là cho đấu thầu đất bãi lầy có RNM ở ven biển, cửa sông để nuôi tôm xuất khẩu mà chưa tính đến hậu quả lâu dài do thiên tai và suy giảm tài nguyên khi không còn rừng.

3.8. Những mối đe doạ khác

Trước chiến tranh Đông Dương (1945), Việt Nam có tới 43,6% diện tích đất có rừng che phủ, chủ yếu là rừng nguyên sinh. Ngày nay chỉ có 28%, phần lớn là rừng trồng các loài cây nhập nội, rừng tái sinh. Hậu quả của tình hình này đã làm thay đổi khí hậu ở trong vùng mưa lũ, hạn hán thất thường và ở mức độ cao, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng ở cả vùng núi và vùng ven biển.

Việc khai thác nước ngầm bừa bãi dùng trong sinh hoạt, tưới cây, đặc biệt là phục vụ cho việc nuôi tôm thâm canh ven biển đang là mối đe doạ lớn đối với hệ sinh thái RNM. Hiện tượng suy thoái RNM do độ mặn nước triều quá cao đã và đang làm cho một số diện tích rừng trồng ở Quảng Ninh, Thái Bình bị chết hoặc bị hà bám dày đặc rồi chết dần.

Bên cạnh đó việc đắp đê ngăn mặn, đắp bờ bao  ngăn lũ tràn ở đồng bằng sông Cửu Long đã làm cho độ mặn ở vùng cửa sông, các con sông có nước lợ về mùa khô tăng cao, ảnh hưởng lớn đến các loài động vật ưa nước lợ như bần chua (Sonneratia caseolaris), dừa nước (Nypa fruticans) rất phong phú ở vùng này, một số loài thân mềm, giáp xác và cá nước lợ cũng giảm dần.

Nước biển dâng

Hiện tượng này được tạo ra bởi tổ hợp của nhiều yếu tố, đặc biệt do sự tăng khí thải công nghiệp, nông nghiệp như CO2, CH4 và mất RNM. Những dự báo cho biết trong thế kỷ này, Trái đất sẽ ấm lên, mức nước biển sẽ dâng cao hơn mức hiện nay có thể từ 60-100cm. Trong điều kiện đó nhiều vùng đất thấp ven biển, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị chìm ngập trong nước biển, các rừng cây ngập mặn, các đầm tôm cũng không còn nữa.

Một số địa phương vận dụng sai lệch văn bản của Nhà nước (QĐ 773) trong việc sử dụng đất bồi mặt nước ven biển. Họ không những không quan tâm đúng mức đến việc trồng, bảo vệ rừng phòng hộ mà chỉ coi RNM là vùng đất ngập nước ít giá trị nên có qui hoạch phá một số RNM để mở rộng diện tích nuôi tôm (tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng, tỉnh Thanh Hoá, tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Khánh Hoà…).

Một số đề án trồng RNM của các NGOs đã hết thời hạn hỗ trợ kinh phí để chăm sóc bảo vệ rừng. Khi giao lại cho địa phương do không đủ kinh phí để tổ chức bảo vệ, nên có thể rừng lại tiếp tục bị chuyển đổi sang mục đích kinh tế khác.

Tính pháp lý của các bản hợp đồng và cam kết giữa NGOs và chính quyền hoặc các đoàn thể ở một số địa phương bị vi phạm và không thực hiện đầy đủ do những người ký (bên B) sau một số năm đã chuyển sang công tác khác; một số người lãnh đạo mới không chịu kế thừa trách nhiệm quản lý, mà chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt là phát triển nguồn lợi từ tôm nuôi để xuất khẩu.

 

  1. đề xuất đối với việc phục hồi rừng ngập mặn ven biển

4.1. Các mục tiêu chiến lược hành động quốc gia về rừng ngập mặn đến 2010

4.1.1. Mục tiêu chung

Chiến lược nhằm thúc đẩy việc bảo vệ, phục hồi, sử dụng và quản lý có hiệu quả hệ sinh thái rừng ngập mặn (HSTRNM) Việt Nam theo định hướng phát triển bền vững, đảm bảo các chức năng sinh thái, giá trị và tính đa dạng sinh học của HSTRNM đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng cửa sông ven biển.

4.1.2. Các mục tiêu cụ thể

Hệ sinh thái rừng ngập mặn là một thành tố của đất ngập nước, là một loại rừng phòng hộ đồng thời cũng là nguồn lợi rất lớn về thuỷ sản. Do đó chiến lược hành động bảo vệ HSTRNM phải phù hợp với các mục tiêu chiến lược đất ngập nước và chiến lược của các ngành Lâm nghiệp, thuỷ sản.

Tuy nhiên, RNM là một hệ sinh thái có đặc thù ở vùng chuyển tiếp giữa biển và đất liền (ecotone), rất nhạy cảm trước các tác động của con người và thiên nhiên. Do đó không thể áp dụng cứng nhắc các luật về rừng nội địa, về thuỷ sản vào việc sử dụng và quản lý.

Tăng cường hiệu quả pháp luật về quản lý và bảo vệ HSTRNM

Đánh giá tiềm năng các tài nguyên trong HSTRNM, hiện trạng về kinh tế xã hội trong vùng có RNM, tìm nguyên nhân và hậu quả của các hình thức sử dụng không hợp lý hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp trước mắt và lâu dài để sử dụng bền vững.

Đề xuất các biện pháp giữ dìn và phục hồi các chức năng và giá trị của HSTRNM. Ưu tiên các vùng mà RNM có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường, cuộc sống của người nghèo, có ý nghĩa quốc gia, quốc tế như các khu bảo tồn, các sân chim, các vườn quốc gia.

Tăng cường hợp tác giữa các ngành có liên quan và giữa trung ương và với địa phương trong việc qui hoạch và quản lý HSTRNM.

Tìm các biện pháp để nâng cao mức sống của nhân dân sống trong vùng RNM để hạn chế tối đa việc phá rừng nuôi tôm và chặt phá rừng.

Khuyến khích nghiên cứu khoa học, điều tra tổng hợp HSTRNM ở các vùng sinh thái khác nhau đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường cửa sông, ven biển.

Đề ra các biện pháp có hiệu quả để nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò và lợi ích của HSTRNM từ đó tạo điều kiện cho cộng đồng bảo vệ RNM, đấu tranh với các hành vi phá RNM vì mục tiêu kinh tế trước mắt, cục bộ.

Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu, phục hồi, bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững HSTRNM.

 

Hộp 5. Một số kiến nghị của hội thảo toàn quốc “Vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn và rạn san hô trong việc giảm nhẹ tác động của đại dương đến môi trường”Trong hai ngày 8 – 9/10/2005, nhờ sự hỗ trợ về kinh phí của Quỹ Môi trường Sida Thuỵ Điển (SEF) và Tổ chức Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức Hội thảo trên với sự tham gia của 130 đại biểu trong toàn quốc cùng với một số chuyên gia về môi trường quốc tế và khu vực.Hội thảo đã nghe 22 báo cáo liên quan đến sóng thần, lụt bão và vai trò của rừng ngập mặn, rạn san hô trong việc giảm nhẹ tác hại của sóng thần và thiên tai đối với đê biển và đới bờ; đề xuất các giải pháp phục hồi, bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái rừng ngập mặn và rạn san hô, cùng một số kết quả nghiên cứu về sinh thái, kinh tế – xã hội ở hai hệ sinh thái trên. Hội thảo cũng dành nhiều thời gian thảo luận, đề xuất các kiến nghị với Nhà nước và các ngành có liên quan.

 

Hội thảo đã nhất trí gửi một số kiến nghị đến lãnh đạo Nhà nước và các ngành có liên quan như sau:

1. Một số nhà khoa học và một số địa phương ven biển cho biết: thiệt hại về đê biển và tài sản trong 3 cơn bão số 2, số 6, số 7 năm 2005 rất lớn. Tuy nhiên, nơi nào trồng được dải rừng ngập mặn tốt thì đê không bị xói lở hoặc bị vỡ như Bàng La – Đồ Sơn, Vinh Quang – Tiên Lãng – Hải Phòng, Thái Đô – Thái Thuỵ – Thái Bình.v.v…

Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn điều tra, so sánh và đánh giá đầy đủ những thiệt hại do các cơn bão gây ra ở nơi không có rừng ngập mặn và nơi có rừng ngập mặn rồi công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

2. Đề nghị Chính phủ sớm có một số văn bản qui định cụ thể về những biện pháp bảo vệ các rừng ngập mặn chắn sóng, các loại rừng chắn gió ven biển và các rạn san hô. Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Thuỷ sản và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thu hồi đất vốn là rừng ngập mặn đang nuôi tôm nhưng không hiệu quả hoặc đã bỏ hoang và có kế hoạch phục hồi các vành đai RNM.

3. Nhà nước sớm có văn bản qui định vành đai cây xanh bắt buộc để bảo vệ bờ sông, bờ biển và đê biển khỏi bị xói lở (do mưa, bão, sụt đất, triều cường, nước biển dâng và do tàu thuyền di chuyển trên sông). (Ở Indonesia, vành đai cây xanh được chính phủ qui định ở ven sông là 30 – 50m, ở ven biển 500 – 1000m).

4. Chính phủ nên qui định vành đai rừng ngập mặn là một thành phần quan trọng trong hệ thống đê biển và dành một phần kinh phí thích hợp trong việc tu bổ đê điều để phục hồi hoặc trồng mới và bảo vệ lâu dài vành đai đó. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có văn bản hướng dẫn thực hiện sớm vành đai.

5. Bộ Thuỷ sản cần đánh giá chính xác hiệu quả nuôi tôm trên đất rừng ngập mặn vì thường sau một số ít năm, đất thoái hoá (acid sulphat), môi trường trong và ngoài đầm bị ô nhiễm, dịch bệnh lan tràn, diện tích đầm bỏ hoang ngày càng nhiều. Nên chuyển những hộ nuôi không có hiệu quả sang các phương thức nuôi hải sản lồng bè trên kênh rạch với vốn vay ưu đãi của ngân hàng. Cần xây dựng và phát triển các dạng nuôi tôm sinh thái thay cho các hình thức nuôi khác.

6. Trong kế hoạch khoa học giai đoạn 2006 – 2010, Bộ Khoa học và Công nghệ cho phép xây dựng một chương trình Nhà nước để:

a. Nghiên cứu tác động của các vành đai rừng ngập mặn có cấu trúc, thành phần khác nhau ở ven biển làm giảm sóng bão và các thiên tai khác.

b. Đánh giá giá trị kinh tế, môi trường của hệ sinh thái rừng ngập mặn và rạn san hô, so sánh với các hoạt động kinh tế khác ở vùng đất ngập nước ven biển, cửa sông để các nhà hoạch định chính sách có đầu tư thích đáng.

c. Có chương trình nâng cao nhận thức cho các cơ quan chính phủ, các quan chức ở trung ương và địa phương và cộng đồng về vai trò của rừng ngập mặn và các hệ sinh thái ven biển khác đối với sự phát triển bền vững về kinh tế và môi trường.

7. Cần qui hoạch lại việc sử dụng đất cả ở trong và ngoài đê. Chọn nơi thuận lợi để xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên ven đê và có cơ chế quản lý thích hợp.

8. Cần xây dựng “Quĩ phục hồi và bảo tồn rừng ngập mặn” do chính phủ và các tổ chức quốc tế, NGOs tài trợ.

9. Các vị lãnh đạo cao cấp của Nhà nước nên quan tâm hơn đến công tác quản lý các rừng ngập mặn và rạn san hô trong việc bảo vệ đê điều và hạn chế xói lở ven biển, ven sông (hiện nay ở Thái Lan, vua đi thăm rừng ngập mặn, công chúa tham gia trồng rừng ngập mặn, vua và chính phủ có quyết định cấm phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, thủ tướng Malaysia cũng rất quan tâm đến việc bảo vệ rừng ngập mặn, nhất là sau khi có sóng thần 26/12/2005). Theo thông tấn xã Malaysia ngày 9/1/2005, thủ tướng Malaysia đã phát biểu “Không được đụng đến rừng ngập mặn vì rừng ngập mặn là lá chắn tự nhiên cần được bảo vệ”.

 

4.2. Các hành động chiến lược sử dụng bền vững, bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam (Hồng 2004, Sâm và cs 2005)

  1. Mục tiêu 1: Thay đổi cơ bản nhận thức về vai trò, giá trị HSTRNM và sử dụng bền vững HSTRNM cho các nhà quản lý chủ yếu ở cấp địa phương (tỉnh, huyện), các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư vùng RNM.

Hành động 1.1: Đẩy mạnh vịêc tuyên truyền,giáo dục các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư vùng RNM và các nhà quản lý địa phương về vai trò và giá trị của HSTRNM và quản lý, sử dụng bền vững HSTRNM vì lợi ích trước mắt và lâu dài.

Nội dung:

Soạn thảo các tài liệu phổ thông để tuyền truyền phổ cập trên các kênh thông tin dựa vào chương trình nâng cao kiến thức về tài nguyên rừng trong đó có HSTRNM cho các lớp bồi dưỡng chính trị, học tập lý luận ở các trường Đảng, đào tạo cán bộ cấp tỉnh.

Tuyên truyền, giáo dục các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư vùng RNM về vai trò và giá trị của RNM, việc quản lý và sử dụng bền vững RNM vì lợi ích trước mắt và lâu dài bằng nhiều hình thức phong phú (Tài liệu bướm, tập huấn, nói chuyện, phát thanh, truyền hình …..)

  1. Cơ quan thực hiện: Các VQG, khu BTTN, Ban nghiên cứu HSTRNM (MERC/MERD), Viện KHLN Việt Nam,Viện ĐTQHR và các tổ chức phi Chính phủ.
  2. Thời gian thực hiện: 2006-2015
  3.  Mục tiêu 2: Nâng cao hiệu quả bảo vệ, phục hồi và phát triển HSTRNM

Hành động 2.1: Củng cố và nâng cao hiệu lực hệ thống quản lý Đất ngập nước, HSTRNM ở cấp Bộ (Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Thủy sản) và địa phương (tỉnh, huyện) trong mối quan hệ liên ngành (Nông lâm nghiệp – Thuỷ sản – Địa chính – Xây dựng – Du lịch…).

  1. Nội dung:

Định hướng hoạt động chủ yếu như sau: Nguyên tắc chung là các tổ chức quản lý không cồng kềnh, phức tạp và trùng lặp vì đã có sự phân công trách nhiệm giữa các Bộ. Tuy nhiên vịêc phối hợp liên ngành cần phải đặt ra trong tổ chức quản lý HSTRNM, nhất là ở địa phương.

Bộ Tài nguyên Môi trường chịu trách nhiệm quản lý đất ngập nước trên phạm vi toàn quốc cần xây dựng thông tư liên ngành quản lý HSTRNM.

Bộ Nông nghiệp và PTNT chịu trách nhiệm chính quản lý RNM cần cử cán bộ chuyên trách theo dõi, giám sát rừng ngập  nói chung trong đó có rừng ngập mặn. Cần quan tâm quản lý không chỉ RNM mà là hệ sinh thái nên cần bồi dưỡng kiến thức tổng hợp và có mối quan hệ với ngành thuỷ sản, địa chính,…..

Bộ Thủy sản chịu trách nhiệm về quản lý nguồn lợi thủy sản trong vùng RNM.

Củng cố và hoàn thiện hệ thống Ban quản lý các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng phòng hộ hoạt động có hịêu quả.

Củng cố và cải thiện hoạt động của các Lâm ngư trường .

  1. Cơ quan thực hiện: Bộ TNMT, Bộ NN và PTNT, Bộ thuỷ sản, các VQG,  khu BTTN, Lâm ngư trường, vv.
  2. Thời gian thực hiện : 2006-2007

Hành động 2.2: Bổ sung các thể chế, chính sách quốc gia nhằm hình thành các quyết định, nghị định  về việc quản lý sử dụng HSTRNM một cách bền vững và có hiệu quả.

  1. Nội dung:

Xây dựng khung pháp lý liên ngành về quản lý sử dụng HSTRNM

Rà soát lại các chính sách, quy định liên quan đến RNM.

Phân tích, bổ sung các chính sách, quy định về sử dụng HSTRNM liên quan đến thủy sản và các ngành kinh tế khác.

  1. Cơ quan thực hiện:  Bộ NN và PTNT, Bộ TNMT, Bộ thuỷ sản.
  2. Thời gian thực hiện: 2006-2008

Hành động 2.3: Rà soát, xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch sử dụng đất các tỉnh, huyện có rừng ngập mặn mang tính pháp lý, khoa học và thực tiễn..

  1. Nội dung:

Rà soát, bổ sung các quy hoạch đã có trên quan điểm liên ngành, dựa trên các luận cứ khoa học và xem xét RNM dưới góc độ hệ sinh thái.

Xây dựng các quy hoạch mới có tính pháp lý, khoa học và thực tiễn và được các cấp thẩm quyền phê duyệt.

Phổ cập các quy hoạch và giám sát thực hiện quy hoạch.

  1. Cơ quan thực hiện: Viện ĐTQHR,Viện Quy hoạch TKNN, Các sở TNMT các tỉnh có RNM, UBND tỉnh, huyện, các VQG, Khu BTTN, Lâm ngư trường,…
  2. Thời gian thực hiện: 2006- 2008

Hành động 2.4: Bảo vệ, khôi phục, phát triển RNM và Sử dụng bền vững HSTRNM.

  1. Nội dung:

Nghiên cứu, cải tiến các mô hình sử dụng bền vững HSTRNM phù hợp trong các điều kiện sinh thái khác nhau. Đẩy mạnh hoạt động khuyến lâm ngư , soạn thảo các hướng dẫn công nghệ phổ cập trong thực tiễn.

Đẩy mạnh bảo vệ HSTRNM dựa trên các quy hoạch có tính pháp lý và khoa học. Cương quyết ngăn chặn các hoạt động phá RNM nuôi trồng thuỷ sản và sử dụng cho các mục tiêu khác.

Hạn chế khai thác RNM để cung cấp gỗ. Từ nay đến  2010 tập trung nuôi dưỡng và tỉa thưa rừng đáp ứng một phần nhu cầu gỗ củi cho người dân.

Lập kế hoạch phục hồi rừng ngập mặn theo từng giai đoạn 5 năm, xác định rõ địa điểm và phương thức, giải pháp phục hồi phù hợp, có hiệu quả.

Việc gây trồng rừng mới cần chú ý cân nhắc mọi mối quan hệ sinh thái trong hệ thống RNM, đặc biệt ở các khu RAMSAR.

Đẩy mạnh hoạt động các cộng đồng, các tổ chức mặt trận tham gia bảo vệ, khôi phục RNM (các nhóm hộ gia đình, hội thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, học sinh…).

  1. Cơ quan thực hiện: Các viện nghiên cứu (Viện KHLN, ĐTQHR, Thủy sản), Các ban quản lý rừng, lâm ngư trường, UBND tỉnh, huyện, cộng đồng, các tổ chức khuyến lâm,….
  2. Thời gian thực hiện: Pha 1: 2006- 2010 và pha 2: 2011 – 2015

Hành động 2.5: Củng cố và phát triển các khu bảo tồn và vườn quốc gia

  1. Nội dung :

Củng cố, xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia đã được phê duyệt dựa trên các luận chứng kinh tế – kỹ thụât, dự án đầu tư phát triển và gắn với việc nâng cao đời sống dân cư và cộng đồng.

Các khu BTTN mới sẽ được hình thành như ở cửa sông Tiên Yên (Quảng Ninh), cửu sông Văn úc (Hải Phòng), Thái Thụy (Thái Bình), Nghĩa Hưng (Nam Định),… cần được điều tra đánh giá toàn diện điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, hệ sinh thái và ĐDSH và lập luận chứng kinh tế – kỹ thuật  trình phê duyệt.

  1. Cơ quan thực hiện: Bộ NN và PTNT, Bộ TNMT, Bộ KHĐT, Các VQG, khu BTTN, UBND tỉnh,huyện, Viện ĐTQHR,….
  2. Thời gian thực hiện: 2006– 2010
  3.  Mục tiêu 3: Nâng cao hiểu biết về các giá trị ĐDSH của HSTRNM và giá trị bảo tồn các nguồn gen quý hiếm.

Hành động 3.1: Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, cộng tác trong nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất.

  1. Nội dung : Những hoạt động chủ yếu là: Cần thiết lập một chương trình nghiên cứu quốc gia về đất ngập nước, trong đó có HSTRNM,vv. Những nội dung cơ bản cần đề cập trong nghiên cứu là:

Thống kê và theo dõi diễn biến về diện tích, diễn thế, cấu trúc và chất lượng RNM. Bản đồ hoá diện tích RNM các khu vực. Xây dựng cơ sơ dữ liệu quốc gia

Bảo tồn các nguồn gen quý hiếm

Nghiên cứu có hệ thống HSTRNM, ĐDSH và mối quan hệ mắt xích trong chu trình dinh dưỡng.

Nghiên cứu các quá trình biến đổi HSTRNM dưới tác động con người

Cần quan tâm đánh giá tác động ảnh hưởng tới môi trường đất và nước.

Nghiên cứu các mô hình sử dụng hợp lý HSTRNM và các ảnh hưởng tới môi trường và ĐDSH.

Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật phục hồi và phát triển RNM.

Nghiên cứu các vấn đề kinh tế-xã hội và lượng giá về giá trị của HSTRNM.Tăng cường tiềm lực cho các cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về HSTRNM

  1. Cơ quan thực hiện: Các tổ chức nghiên cứu ở Viện, trường (Viện KHLN Việt Nam, Viện nghiên cứu thủy sản, Ban nghiên cứu HSTRNM (MERC/MERD)), các tổ chức quốc tế (UNEP, GEF, IUCN, ACIAR, NGO…)
  2. Thời gian thực hiện: Pha 1: 2006-2010 và pha 2: 2011 – 2015

Hành động 3.2: Mở rộng và tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, bảo vệ, phục hồi và sử dụng bền vững HSTRNM.

  1. Nội dung:

Mở rộng và củng cố mối quan hệ hợp tác quốc tế với các tổ chức và các mạng lưới nghiên cứu RNM: Hội thảo quốc tế về HSTRNM (ISME, UNESCO, IUCN, tổ chức về chim quốc tế, FAO, MAB Nhật Bản, ACIAR) và nhiều tổ chức phi chính phủ khác như ACTMANG, SCF-UK, OXFAM Bỉ, IDRC, Hội chữ thập đỏ Thụy Sĩ, vv.

Tăng cường tiềm lực nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu HSTRNM để nâng cao hiệu quả hợp tác và tranh thủ nguồn kinh phí nghiên cứu nước ngoài.

Trao đổi kinh nghiệm, tổ chức các cuộc hội thảo, tham quan cũng là những hoạt động hợp tác quốc tế quan trọng cần được tăng cường.

  1. Cơ quan thực hiện: Các tổ chức quốc tế đã nêu trên và các đối tác Việt Nam, các Bộ NN và PTNT, TNMT; các viện nghiên cứu (Viện KHLN Việt Nam; viện ĐTQHR); các trường đại học liên quan, Ban nghiên cứu HSTRNM (MERC/MERD).
  2. Thời gian thực hiện: 2006– 2015
  3.  Mục tiêu 4: Góp phần cải thiện đời sống người dân sống chung quanh rừng ngập mặn.

Hành động 4.1: Tổ chức xã hội hoá nghề rừng và nâng cao đời sống người dân ở các vùng có RNM.

  1. Nội dung:

Hình thành các tổ chức để người dân tham gia các hoạt động bảo vệ và phục hồi rừng (nhóm hộ gia đình, các hội quần chúng  như thanh niên, phụ nữ, phụ lão, các nhóm tình nguyện), người dân và cộng đồng cũng cần được biết và thảo luận những hoạt động chủ yếu trong quản lý, phục hồi và bảo vệ HSTRNM chung quanh họ.

Xã hội hoá nghề rừng nên theo hướng đồng quản lý nghĩa là có sự tham gia  đồng thời giữa chủ rừng và cộng đồng trong bảo vệ và quản lý rừng.

Nâng cao  đời sống người dân  thông qua sử dụng có hiệu quả và bền vững HSTRNM và tạo thêm công ăn việc làm cho người dân trong vùng tuỳ điều kiện cụ thể.

  1. Các cơ quan thực hiện: UBND các tỉnh, huyện; các ban quản lý rừng, các lâm ngư trường, các khu bảo tồn và vườn quốc gia RNM.
  2. Thời gian thực hiện: Pha 1: 2006– 2010 và pha 2: 2011 – 2015

 

 

4.3. Các hành động và khu vực ưu tiên quản lý rừng ngập mặn

 Các hành động ưu tiên

Mục tiêu 1:

Hành động 1.1Tăng cường các hoạt động phù hợp nhằm nâng cao nhận thức về vai trò, giá trị HSTRNM, quản lý và sử dụng bền vững HSTRNM cho các nhà quản lý chủ yếu ở các địa phương có RNM (2006-2010);

Hành động 1.2Đẩy mạnh vịêc tuyên truyền, phổ cập tới các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư vùng RNM về vai trò và giá trị của HSTRNM và quản lý, sử dụng bền vững HSTRNM vì lợi ích trước mắt và lâu dài (Pha 1: 2006-2010 và pha 2: 2011 – 2015).

Mục tiêu 2:

Hành động 2.2Bổ sung các thể chế, chính sách quốc gia nhằm hình thành các quyết định, nghị định  về việc quản lý sử dụng HSTRNM một cách bền vững và có hiệu quả (2006-2007);

Hành động 2.3Rà soát, xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch sử dụng đất các tỉnh, huyện có rừng ngập mặn mang tính pháp lý, khoa học và thực tiễn (2006– 2007);

Hành động 2.5Củng cố và phát triển các khu bảo tồn và vườn quốc gia (2006– 2010).

Mục tiêu 3:

Hành động 3.1Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, cộng tác trong nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất (Pha 1: 2006-2010 và pha 2: 2010 – 2015).

Mục tiêu 4:

Hành động 4.1: Tổ chức xã hội hoá nghề rừng và nâng cao đời sống người dân ở các vùng có RNM (Pha 1: 2006– 2010 và pha 2: 2010 – 2015).

 

4.3. Các dự án đề xuất

Dự án 1:  Xây dựng và nâng cao hiệu lực các chính sách, thể chế và thiết lập hình thức tổ chức hợp lý ở địa phương nhằm quản lý bền vững rừng ngập mặn (2 năm).

Dự án 2: Thống kê diện tích và diễn biến  rừng ngập mặn, đất rừng ngập mặn và hiện trạng sử dụng đất rừng ngập mặn (Theo chu kỳ 5 năm).

Dự án 3: Hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng rừng ngập mặn có tính khoa học pháp lý ở cấp địa phương giai đoạn 5-10 năm (2 năm).

Dự án 4: Nghiên cứu bổ sung một cách hệ thống các nguồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam, môi trường hệ sinh thái và lượng giá kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn (4 – 5 năm).

Dự án 5: Xây dựng các mô hình sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn. (3 năm).

Dự án 6Nghiên cưú thiết lập các đai rừng ngập mặn phòng hộ ven biển, các giải pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên  và phục hồi rừng trên diện tích đất rừng ngập mặn (3 – 4 năm).

Dự án

Bình luận

Tin tức mới

Tổng quan về rừng ngập mặn Việt Nam (Phần 2)

Tổng quan về rừng ngập mặn Việt Nam (Phần 2)

Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc (theo quyết định số 03/2001/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 5/1/2001) công bố tháng 7/2001 do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng tiến hành, diện tích rừng ngập mặn (RNM) Việt Nam tính đến ngày 21/12/1999 là 156.608ha.

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit, sed diam nonummy nibh euismod

Danh sách Tag