Tổng quan về rừng ngập mặn Việt Nam (Phần 1)

  28/05/2016

Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc (theo quyết định số 03/2001/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 5/1/2001) công bố tháng 7/2001 do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng tiến hành, diện tích rừng ngập mặn (RNM) Việt Nam tính đến ngày 21/12/1999 là 156.608ha. Trong đó diện tích RNM tự nhiên là 59.732ha chiếm 38,1% và diện tích RNM trồng là 96.876ha chiếm 61,95%. Trong số diện tích RNM trồng ở Việt Nam, rừng đước (Rhizophora apiculata) trồng chiếm 80.000ha (82,6%), còn lại 16.876ha là rừng trồng trang (Kandelia obovata), bần chua (Sonneratia caseolaris) và các loại cây ngập mặn trồng khác (17,4%) (Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, 2001).

  1. Tổng quan về rừng ngập mặn Việt Nam 

1.1. Hiện trạng và xu thế biến đổi hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Việt Nam

1.1.1. Diện tích rừng ngập mặn Việt Nam

Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc (theo quyết định số 03/2001/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 5/1/2001) công bố tháng 7/2001 do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng tiến hành, diện tích rừng ngập mặn (RNM) Việt Nam tính đến ngày 21/12/1999 là 156.608ha. Trong đó diện tích RNM tự nhiên là 59.732ha chiếm 38,1% và diện tích RNM trồng là 96.876ha chiếm 61,95%. Trong số diện tích RNM trồng ở Việt Nam, rừng đước (Rhizophora apiculata) trồng chiếm 80.000ha (82,6%), còn lại 16.876ha là rừng trồng trang (Kandelia obovata), bần chua (Sonneratia caseolaris) và các loại cây ngập mặn trồng khác (17,4%) (Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, 2001).

Cho đến nay, các số liệu thống kê về diện tích RNM ở Việt Nam không thống nhất.

– Kết quả thống kê diện tích rừng ngập mặn từ các tỉnh ven biển Việt Nam tập hợp lại (Sâm và cs. 2005), tính đến tháng 12/2001 thì Việt Nam có tổng diện tích RNM khoảng 155.290ha, chênh lệch 1.318ha so với số liệu kiểm kê rừng toàn quốc tháng 12/1999 (156.608ha). Trong đó diện tích RNM tự nhiên chỉ có 32.402ha chiếm 21%, diện tích RNM trồng 122.892ha chiếm 79%.

Bảng 1. Phân bố diện tích đất ngập mặn và RNM theo tỉnh và thành phố ven biển Việt Nam                        (tính đến tháng 12/2001)

TT Tỉnh/Thành phố Diện tích đất ngập mặn Diện tích có RNM Diện tích không có RNM Diện tích đầm nuôi tôm nước lợ
Diện tích (ha) % DT  (ha) % DT  (ha) % DT  (ha) %
Tổng số 606.782 100,0 155.290 100.0 225.394 100.0 226.075 100.0
1 Quảng Ninh 65.000 10,7 22.969 14.8 27.194 12.1 14.837 6.6
2 TP Hải Phòng 17.000 2,8 11.000 7.1 1.000 0.4 5.000 2.2
3 Thái Bình 23.675 3,9 6.297 4.0 14.526 6.4 2.852 1.3
4 Nam Định 14.843 2,4 3.012 1.9 6.031 2.7 5.800 2.6
5 Ninh Bình 1.817 0,3 533 0.3 1.084 0.5 200 0.1
6 Thanh Hoá 18.000 3,0 1.000 0.6 15.848 7.0 1.152 0.5
6 Thanh Hoá 18.000 3,0 1.000 0.6 15.848 7.0 1.152 0.5
7 Nghệ An 3.974 0,6 800 0.5 2.137 0.9 1.035 0.4
8 Hà Tĩnh 9.000 1,5 500 0.3 8.182 3.6 918 0.1
9-19 10 tỉnh và tp miền Trung còn lại 13.068 2,1 700 0.4 12.368 5.5
20 Bà Rịa – Vũng Tàu 37.100 6,1 1.500 1.0 34.360 15.2 1.240 0.5
21 Tp Hồ Chí Minh 30.000 4,9 24.592 15.8 3.180 1.4 2.228 1.0
22 Long An 1.750 0,3 400 0.2 300 0.1 4.050 0.5
23 Bến Tre 36.276 6,0 7.153 4.6 9.023 4.0 20.100 8.9
24 Tiền Giang 2.828 0,5 560 0.4 120 0.05 2.148 0.9
25 Trà Vinh 39.070 6,4 8.582 5.5 55.007 9.8 8.481 3.7
26 Sóc Trăng 34.834 5,7 2.943 1.9 6.423 2.8 25.468 11.3
27 Bạc Liêu 26.107 4,3 4.142 2.7 1.411 0.6 20.533 9.1
28 Cà Mau 222.003 36,6 5.285 37.5 71.718 31.8 92.000 40.7
29 Kiên Giang 10.437 1,7 322 0.2 850 0.4 9.265 4.1

Nguồn: Đỗ Đình Sâm và cs. 2005

 

– Theo quyết định số 1116/QĐ.BNN-KL ngày 18/5/2005 của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn về việc công bố diện tích rừng và đất chưa sử dụng toàn quốc năm 2003 là 68.276ha và 2004 là 68.035ha trong đó rừng đặc dụng là 12.761ha, rừng phòng hộ 42.221ha và rừng sản xuất 13.053ha.

1.1.2. Phân bố địa lý rừng ngập mặn ven biển

Dựa vào các yếu tố địa lý, khảo sát thực địa và một phần kết quả ảnh viễn thám, Phan Nguyên Hồng (1991) đã chia RNM Việt Nam ra làm 4 khu vực và 12 tiểu khu (hình 3).

Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn

Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường

Khu vực III: Ven biển Trung Bộ: Từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu

Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải, Hà Tiên.

1.1.2.1. Khu vực I: Ven biển Đông Bắc         

Bờ biển Đông Bắc là khu vực phức tạp nhất, thể hiện trong các đặc điểm về địa mạo, thủy văn và khí hậu; có những mặt thuận lợi cho sự phân bố của RNM, nhưng cũng có những nhân tố hạn chế sự sinh trưởng và mức độ phong phú của các loài cây, trong đó nhiệt độ có vai trò quan trọng.

Khu vực I có 1 hệ thực vật ngập mặn tương đối phong phú, gồm những loài chịu mặn cao, không có các loài ưa nước lợ điển hình, trừ các bãi lầy nằm sâu trong nội địa như Yên Lập và một phần phía nam sông Bạch Đằng, do chịu ảnh hưởng mạnh của dòng chảy.

Đáng chú ý là những loài phổ biển ở đây như đâng, vẹt dù, trang, lại rất ít gặp ở RNM Nam Bộ. Có những loài chỉ phân bố ở khu vực này như chọ, hếp Hải Nam. Ngược lại nhiều loài phát triển mạnh ở Nam Bộ về cả kích thước và phân bố lại không có mặt ở khu vực I.

Khu vực I được chia làm 3 tiểu khu:

  1. Tiểu khu 1

Từ Móng Cái đến Cửa Ông, bờ biển dài khoảng 55 km. Tiểu khu này gồm lưu vực cửa sông KaLong, lưu vực vịnh Tiên Yên – Hà Cối và vùng ven bờ cửa sông Tiên Yên – Ba Chẽ.

Vùng cửa sông Tiên Yên – Ba Chẽ được giới hạn đường bờ từ Đầm Hà đến Cửa Ông, phía ngoài là các lạch triều sâu ngăn cách với hệ thống đảo chắn Cái Bầu, Cái Chiên tạo thành cửa sông hình phễu Tiên Yên – Ba Chẽ (Cự và cs, 1996) với nhiều hòn đảo lớn nhỏ có rừng nhiệt đới trên cạn và các viền RNM ven bờ và quanh các đảo.

Tiểu khu này có tính chất thuỷ triều khá thuần nhất nhưng lòng sông dốc nên cây ngập mặn không phân bố sâu vào nội địa; độ mặn tương đối cao (bình quân 26‰/năm) phù hợp với sinh trưởng của các loài chịu mặn cao. Mặc dù có các quần đảo che chắn ở phía ngoài giúp giảm đáng kể tác động của gió mùa và bão tạo điều kiện thuận lợi cho sự phân bố của cây ngập mặn nhưng về mùa đông, khi gió mùa đông bắc tràn xuống thì nhiệt độ không khí, nước và đất giảm xuống đột ngột do đó một số loài không thích nghi nổi, các loài khác chịu được lạnh thì bị kìm hãm về kích thước.

Ở các rừng nguyên sinh ít bị tác động của con người, cây cao nhất cũng chỉ 8 – 10 m như vẹt dù, đângmắm biển. Các bãi triều ở tây nam bán đảo Trà Cổ, Mũi Chùa, cửa sông Tiên Yên, cửa sông Ba Chẽ, RNM phát triển mạnh.

Nguyễn Đức Cự và cs (1996) đã tính được diện tích đất ngập nước triều có phủ thực vật ngập mặn (TVNM) ở tiểu khu gồm: 13.522 ha chia làm 3 vùng (bảng 2).

Bảng 2. Diện tích bãi triều cao có rừng ngập mặn Tiểu khu 1 từ cửa sông KaLong đến Cửa Ông

Địa điểm Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Diện tích RNM tự nhiên (ha) Diện tích thảm cây bụi thưa có vỏ (ha) Tỷ lệ đất có RNM (%)
Vùng cửa sông KaLong (từ thị trấn Móng Cái đến Trà Cổ) 10.707 100 503 635 10,6
Vùng cửa sông Đầm Hà – Hà Cối (từ Đầm Hà đến mũi Ngọc) 42.971 100 1.454 1.795 7,5
Ven bờ cửa sông Tiên Yên – Ba Chẽ (từ Đầm Hà đến Cửa Ông) 31.268 100 4.038 5.097 29,2
Tổng cộng 849.46 100 5.995 7.527  

Nguồn: Nguyễn Đức Cự  và cs 1996

  1. Tiểu khu 2: Từ Cửa Ông đến Cửa Lục (dài khoảng 40km)

Mặc dầu có một hệ thống quần đảo khá dầy che chắn sóng, gió ở phía ngoài (Bái Tử Long, Hạ Long), độ mặn ít thay đổi, nhưng do nhiệt độ mùa đông thấp, lượng mưa không cao, phù sa ít, cho nên RNM dọc thành phố Hạ Long không thể phát triển rộng, mà thường là những bãi hẹp, hoặc tạo thành những viền hẹp ở sát bờ biển.

Tác động của con người khá mạnh vào các vùng RNM trong quá trình khai thác than, nhiều bãi triều có RNM bị lấp (Cọc 3, Hồng Gai) do đất đá thải từ mỏ xuống. Sự mở rộng đô thị cũng lấp đất, nên diện tích RNM ngày càng thu hẹp.

Diện tích RNM còn lại rất nhỏ, khoảng 380 ha (Cự và cs, 1996).

  1. Tiểu khu 3: Từ Cửa Lục đến mũi Đồ Sơn (dài khoảng 55 Km)

Tiểu khu này nằm trong hệ thống cửa sông hình phễu Hải Phòng – Quảng Yên (Thạnh và cs, 1985). Địa hình bằng phẵng hơn hai tiểu khu 1, 2; ít chịu tác động của sóng lớn nhờ các đảo đá vôi ở cuối vịnh Hạ Long và các đảo lớn khác chắn ngoài như Cát Hải, Phù Long.

Một hệ thống sông tương đối lớn và kênh rạch đã chuyển phù sa ra ngoài cửa sông và được giữ lại,  tạo nên những hòn đảo nổi gồm toàn cây ngập mặn như đảo Cái Viềng, Hòn Soài, Vũ Yên…

Nhìn chung trầm tích ở tiểu khu 3 phong phú hơn tiểu khu 2 và tiểu khu 1 nên RNM phát triển rộng và kích thước cây tương đối lớn. Các cụ già ở đảo Hoàng Tân cho biết: vào thế kỷ trước rừng ở đây rậm, cây cao 5 – 8 m có nhiều động vật và hải sản quí. Các luồng lạch có khuynh hướng mở rộng kết hợp với biển lấn nên thu hẹp diện tích bãi triều có thực vật ngập mặn ở phía biển. Nước mặn cũng ngược dòng sông Kinh Thày vào địa phận Đông Triều cách cửa sông khoảng 60 km kéo theo các loài cây nước lợ.

Tác động của con người khá lớn. Do mật độ dân số tăng nhanh ở vùng ven biển từ đầu thế kỷ 20 đến nay nên sự tàn phá RNM cũng xảy ra mạnh mẽ. Việc phá rừng để lấy đất sản xuất nông nghiệp trên qui mô lớn trước đây và việc đắp đầm nuôi tôm quảng canh tràn lan đã thu hẹp diện tích RNM huyện Yên Hưng và thị xã Uông Bí. Mặt khác việc khai thác quá mức cây ngập mặn để làm củi cũng khá phổ biến. Do đó mà ở tiểu khu này không còn dấu vết rừng nguyên sinh như tiểu khu 1. Việc đắp đê bao vây đảo Hà Nam và đảo Cát Hải tạo thành một bức ngăn làm cho độ mặn chênh lệch nhau giữa hai phần phía Bắc và phía Nam đã ảnh hưởng đến sự phân bố của một số loài cây ngập mặn.

Theo N. Đ. Cự và cs (1996) thì tổng diện tích đất ngập triều có phủ thực vật ngập mặn ở vịnh Cửa Lục là 2.184 ha chiếm 30% diện tích các kiểu đất ngập triều (7.237 ha). Các dải RNM ở vùng này phần lớn phân bố dọc ven biển huyện Hoành Bồ và một số bãi nổi. Tuy lưu lượng sông yếu nhưng nhờ vị trí kín sóng, độ mặn ổn định nên thực vật ngập mặn có điều kiện phát triển.

Nhưng gần đây do việc khai hoang lấn biển của quân khu 3 và địa phương nên RNM đang bị thu hẹp, môi trường đang thoái hóa (Hồng, 1994). Ở phía nam tiểu khu (trong phạm vi cửa sông Bạch Đằng từ Yên Lập đến Đồ Sơn) RNM trước đây phát triển mạnh với thành phần cây nước lợ ưu thế, nhưng do việc phá rừng và phát triển đầm nuôi tôm nên rừng bị suy giảm. Diện tích RNM còn 7.037 ha, chiếm 9% tổng diện tích đất ngập triều, trong đó có 5.259 ha là rừng dày và 800 ha  rú bụi (Cự và cs, 1996). RNM tự nhiên là những dải nhỏ hẹp bao quanh các đầm nuôi hải sản cửa sông như đầm Nhà Mạc, Hà An, Đảo Công, Yên Lập, Uông Bí (Quảng Ninh), Phù Long, Tràng Cát, Lạch Tray và bắc Thủy Nguyên (Hải Phòng).

Đến giữa năm 1996, khu kinh tế công nghiệp Đình Vũ – Hải Phòng được hình thành trên cơ sở bỏ toàn bộ thảm thực vật ngập mặn tự nhiên ở đó với diện tích trên 1.000 ha (tổng số diện tích bán đảo Đình Vũ là 1.324 ha) chỉ dành 21 ha trồng cây bóng mát, cây cảnh làm vườn thực vật dùng cho việc giải trí cùng với các loài cây xen giữa các cơ sở khu công nghiệp, thương mại dân cư (Sở kinh tế đối ngoại Hải Phòng 5/1996).

Việc mất thảm thực vật RNM phòng hộ đang gây ra hiện tượng xói lở bờ biển ở Đình Vũ.

1.1.2.2. Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ

Khu vực này chia làm hai tiểu khu

  1. Tiểu khu 1: Từ mũi Đồ Sơn đến cửa sông Văn Úc.

Đây là vùng chuyển tiếp giữa khu vực I và II.

Địa hình: từ Đồ Sơn đến bờ bắc sông Văn Úc, cửa sông có dạng hình phễu với các đảo cát ngầm trước cửa sông, ngăn cản một phần cường độ của sóng, mặt khác mũi Đồ Sơn cũng góp phần che chắn, nên RNM có thể phân bố ở dọc các cửa sông. Do bờ biển bị xói lở nên không có dải cây ngập mặn cửa sông.

Điều đáng lưu ý ở tiểu khu này, cũng như tiểu khu 2 là do tốc độ quai đê lấn biển tương đối nhanh, ngăn nước mặn vào sâu trong đất liền, do đó mà RNM chỉ phân bố ở trong cửa sông.

Quần xã cây ngập mặn gồm những loài ưa nước lợ, trong đó loài ưu thế nhất là bần chua phân bố ở vùng cửa sông (Kiến Thụy, Tiên Lãng), cây cao 5-10m. Dưới tán của bần là  và ô rô, tạo thành tầng cây bụi; một số nơi có xen lẫn hai loài sau hoặc phát triển thành từng đám. Trong những năm gần dây do phát triển đầm tôm nên các rừng bầncũng bị phá nhiều và thu hẹp diện tích.

  1. Tiểu khu 2: Từ cửa sông Văn Úc đến cửa Lạch Trường, nằm trong khu vực bồi tụ của hệ sông Hồng

Ở đây cũng có một số điều kiện thuận lợi cho cây nước lợ như: địa hình phẳng, bãi triều rộng, giàu phù sa, lượng nước ngọt nhiều về mùa mưa. Nhưng do địa hình trống trải, các bãi tương đối bằng phẳng nên chịu tác động mạnh của sóng do gió bão tạo nên, đây là một yếu tố ngăn cản RNM hình thành tự nhiên ở vùng ven biển tiểu khu này.

Dọc từ bờ nam của cửa sông Văn Úc (huyện Thụy Hải), trước đây rừng bần chua phát triển mạnh, diện tích khá rộng. Trong cửa sông như cửa sông Trà Lý, Ninh Cơ, cửa sông Lèn, cửa Lạch Trường và một số lạch thì cây ngập mặn phát triển. Quần xã chủ yếu là  và ô rô. Thỉnh thoảng có xen lẫn ít trang và bần chua. Tuy nhiên phạm vi phân bố hẹp vì dòng sông ít dốc và chịu ảnh hưởng mạnh của nước ngọt.

Do khai thác quá mức nên cây không phát triển được, thường là dạng bụi thấp, cằn cỗi.

Để bảo vệ đê, nhân dân ven biển huyện Thái Thụy, Tiền Hải (Thái Bình) và huyện Giao Thủy (Nam Định) đã trồng được những dải rừng trang gần như thuần loại ở phía ngoài đê. Đây là một cuộc đấu tranh khốc liệt với thiên nhiên, tỷ lệ sống rất thấp, nhưng với quyết tâm lớn những rừng trang với cây cao 4-5 m, đường kính 5-10 cm đã hình thành dọc theo đê biển, có tác dụng giữ  đất bồi, bảo vệ đê mấy chục năm vừa qua. Việc trồng trang cũng đã tạo điều kiện cho một số loài tái sinh tự nhiên như sú, bần chua; là môi trường sống cho nhiều hải sản và chim di cư.

Hiện nay ở tiểu khu này có khoảng 8.000 ha RNM, chủ yếu là rừng trồng hỗn hợp trang, bần chua và đâng để bảo vệ đê trong những năm gần đây.

1.1.2.3. Khu vực III: Ven biển Trung bộ: từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu

Do địa hình trống trải sóng lớn, bờ dốc nên nói chung không có RNM dọc bờ biển, trừ các bờ biển hẹp phía Tây các bán đảo nhỏ ở Nam Trung Bộ như bán đảo Cam Ranh, bán đảo Quy Nhơn (nay rừng ở đây đã không còn do bị phá làm đầm tôm). Chỉ ở phía trong các cửa sông, cây ngập mặn mọc tự nhiên, thường phân bố không đều, do ảnh hưởng của địa hình và tác động của cát bay.

Dựa vào đặc điểm địa mạo, thủy văn, có thể chia bờ biển Trung bộ làm 3 tiểu khu:

a.Tiểu khu 1: Từ Lạch Trường đến Mũi Ròn

Ở các cửa sông nhỏ phía nam, có doi cát do sóng bồi đắp đã tạo nên những vịnh (lagoon) nhỏ. ở các bãi triều nằm sau doi cát, trước đây RNM phát triển khá phong phú, nhưng nay đã bị chặt phá hết. Mặt khác nhân dân địa phương đắp đê lấy đất sản xuất nông nghiệp nên RNM có chỗ phân bố hẹp.

Ở sát các cửa sông lớn như sông Mã, sông Lam, lòng sông luôn thay đổi, bên lở bên bồi, các bãi phù sa không ổn định và được nâng lên hoặc bị xói lở nhanh nên không có loài cây nào tồn tại lâu.

Thảm thực vật nước lợ thường phân bỗ ở phía trong cách cửa sông 100-300m. Ví dụ như rừng bần chua ở trong cửa sông phân bỗ dọc theo sông ở xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, từ Xuân Hội đến Xuân Tiên – Hà Tĩnh. Thành phần ưu thế là bần chua, kích thước cây khá lớn: cao trung bình 6-8m, đường kính 20-30cm. Rừng bần ở Hưng Hòa có nhiều cây có đường kính 1 – 1,3 m, nhưng hàng năm bị chặt hết phần cành nên cây không cao Về mùa khô lá rụng hết, trên cành có địa y hình cành bì sinh thành từng đám lớn.

Dưới tán bần là thảm ô rô dày đặc, thỉnh thoảng có vài đám cói hoặc  xen lẫn ô rô. Trên nền đất ngập triều cao córáng, vạng hôi, mớp sát và giá. Trong những năm gần đây, dòng sông đổi hướng đã gây xói lở một số xã, trong đó có rừng bần ở Xuân Hội, Xuân Trường.

Trong chiến tranh và những năm hòa bình, các dải rừng bị tàn phá nặng nề, có chỗ bây giờ không còn vết tích rừng, có chỗ cây cằn cỗi thành dạng rú bụi thấp. Do đắp đập nên nhiều nơi nước đã bớt mặn và bần chua tái sinh tự nhiên khá nhanh; vài chỗ đã trồng lại rừng trang. Các bãi hoang với cỏ chịu mặn còn khá hơn.

Dọc một số sông nhỏ như sông Nghèn, sông Rào, sông Kinh (nam Hà Tĩnh) nước triều lấn sâu vào đất liền nên cũng có thảm thực vật ngập mặn, phía trong cửa sông có mắm, đâng, sú, vẹt dù; đi sâu vào các bãi sông nước lợ có quần xã bần chua ưu thế với các loài ô rô ở tầng thấp.

Trên bờ hoặc một số bãi cao có giá, cóc, vẹt dù, cui biển, mớp sát…(Hà Tĩnh) phát triển mạnh mẽ. Vào thập kỷ 40, rừng ở vùng này khá tốt, có những cây bần cao 8-10m, đường kính 25-30cm, nhưng do khai thác quá mức, do bom đạn nên rừng đã bị thoái hóa gần hết.

Hiện nay một số nơi mắm, ô rô đang tái sinh. Những chỗ đất thoái hóa thì sài hồ mọc dày đặc. Từ cuối thập kỷ 1990 đến 2004, việc trồng, phục hồi rừng phòng hộ từ chương trình 337, 661, đặc biệt là các dự án trồng RNM do NGOs tài trợ đã đem lại hiệu quả cao, và rừng phát triển tốt.

  1. Tiểu khu 2: Từ mũi Ròn đến mũi đèo Hải Vân

Trước thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, RNM phát triển tốt dọc từ cửa sông vào như sông Ròn, sông Gianh, sông Đại Giang (Quảng Bình), sông Bến Hải, sông Cam Lộ,… Thảm thực vật ngập mặn ở bến phà Ròn và bến phà Gianh có chiều cao trung bình 6-8m. Loài ưu thế là đâng, vẹt dù, vẹt khang. Dưới tán của chúng có trang, sú, ô rô ở dạng bụi. Ngoài ra trên vùng đất chỉ ngập triều cao có giá, tra, tra lâm vồmớp sát, cui biển, vạng hôi.

Dọc các triền sông, vào sâu trong nội địa có những rừng bần chua ưu thế, kích thước cây lớn (cao 8-10m, đường kính 20-30cm), có chỗ cách xa biển tới gần 40km như xã Minh Cầm. Dưới tán bần là ô rô và cói cùng một số loài cỏ năn.

Phần phía nam tiểu khu 2 hình thành những đầm phá (lagoon) phần lớn nằm sau các cồn cát với toàn bộ diện tích vực nước 21.600ha, trong đó diện tích các bãi triều chiếm khoảng 1.600ha. Các bãi triều hẹp vì biên độ triều rất nhỏ (0,5m). Các bãi này phân bố không liên tục, thường chỉ rộng 50-100m, một phần đất bị quai đê để sản xuất nông nghiệp.

Do chịu ảnh hưởng mạnh của nước ngọt trong mùa lũ nên độ mặn giao động nhiều, từ 0,5 đến 28,12‰. Thành phần thực vật gồm bần chua, sú. Ngoài ra còn có đâng, vẹt dù, trang, ô rô. Nhân dân địa phương chặt phá cây làm củi nên thảm thực vật cằn cỗi ở dạng cây bụi. Riêng khu vực đầm Lăng Cô ở chân đèo Hải Vân rộng khoảng 1.500 ha, có diện tích bãi triều khoảng 300 ha còn lại một ít cây ngập mặn dạng bụi.

Thảm thực vật ngập mặn trước đây khá tốt, thành phần loài khá phong phú. Ngoài các loài đã gặp ở miền bắc còn một số loài khác phân bố chủ yếu ở miền nam như đưng, mắm trắng, bần ổi chịu độ mặn cao trong mùa khô (29-35,5‰) do địa hình kín, lượng bốc hơi nước cao như phía đông thôn An Cự. Đi xa cửa sông vào đất liền, nồng độ muối thấp dần do đầm nước ngọt từ các suối nhỏ như Hói Mít, Hói Dừa, Hói Cam, nên các loài ưa nước lợ phát triển: bần chua, ôrô, cốc kèn,…Trên bờ đầmcó giá, tra, cui biển, cóc vàng… ở những đất cát ướt có một số loài mọng nước thân cỏ như sam biển, muối biển mọc thành đám.

Hiện nay RNM ở Lăng Cô cũng bị tàn phá nhiều nên diện tích thu hẹp, số loài giảm.

  1. Tiểu khu 3: Từ mũi đèo Hải Vân đến mũi Vũng Tàu

Dựa vào kết quả nghiên cứu của J. Barry, L. C. Kiệt, V. V. Cương (1961) ta thấy có các kiểu quần xã đước trước đây ở phía tây bán đảo Cam Ranh.

– Quần xã đưng tiên phong trên đất thấp

– Quần xã đưng và đước đôi trên đất chặt hơn với các loại xu ổi, vẹt dù, vẹt khang.

– Quần xã mắm quăn và mắm lưỡi đòng với các loài côi, cóc biển, dà vôi

– Trên đất ít khi ngập triều có quần xã cây gỗ giống như ở khu vực khác với các loài giá, xu, tra, vạng hôi, mớp sát

– Quần xã nước lợ bần chua và ô rô gai, mây nước

Hiện nay các quần xã này đã bị biến mất thay vào đấy là các ao ương tôm sú và đầm nuôi tôm

1.1.2.4. Khu vực IV:  Ven biển Nam Bộ

Có thể chia khu vực IV làm 4 tiểu khu

  1. Tiểu khu 1: từ mũi Vũng Tàu đến cửa sông Soài Rạp (ven biển đông Nam Bộ)

Trong chiến tranh hóa học hầu hết vùng RNM ở đây (rừng Sát) đã bị hủy diệt. Sau một thời gian rừng tái sinh nhưng do thiếu nguồn giống và do sự khai thác quá mức của dân địa phương vì thiếu củi đun nên nhiều chỗ không còn cây, đất bị thoái hóa nặng.

Từ năm 1978 phần lớn diện tích vùng bị hủy diệt đã được trồng lại bằng loài đước.

Từ năm 1990 cảnh sắc vùng này đã có nhiều biến đổi. Một số quần xã tự nhiên đang được phục hồi, nhiều loài động vật trên cạn và dưới nước đã đến sinh sống tạo ra sự đa dạng sinh học cao. Một số rừng trồng năm 1978 nay đã tỉa thưa được một khối gỗ, củi lớn.

  1. Tiểu khu 2: Từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thanh (ven biển đồng bằng sông Cửu Long)

Cho  đến 1990 chưa có một tài liệu chính thức nào viết riêng về RNM ở đồng bằng sông Cửu Long. Các tài liệu đã công bố trước đây (Maurand, 1943, Rollet 1962, Thôn, Lợi 1972, Trừng 1970 – 1978, Ross 1975) cũng chỉ nêu vài nét rất sơ lược về vùng này.

Nhân dân địa phương cho biết cách đây 20 năm RNM khá tốt, che kín cả nhà cửa thôn ấp dọc các triền sông. Những gốc bần, gốc mắm bị chất độc hóa học phá hủy còn sót lại có kích thước khá lớn (có gốc đường kính tới 60cm) cũng đã xác minh điều đó.

Cảnh sắc thực vật ngập hiện nay đã thay đổi hoàn toàn, chỉ trừ một số khoảnh rừng mắm trắng ven sông nhân dân giữ lại để bảo vệ đất vườn, nhà ở hoặc bần chua ở sát cửa sông, ven biển có kích thước tương đối lớn cùng với các dải dừa nước ven sông, còn lại là dạng trảng cây bụi hoặc trảng bụi gai… Có tình trạng đó là do hầu hết rừng bị hủy diệt bởi bom đạn và chất độc hóa học của Mỹ. Phần còn lại bị nhân dân chặt phá mạnh. Trên vùng đất bị rải chất độc hóa học còn ngập triều định kỳ CNM tái sinh khá nhanh, sau ngày giải phóng nhân dân lại tiếp tục khai thác cây làm củi, do đó rừng bị kiệt quệ.

Trong vài năm gần đây việc trồng rừng đã được chú ý nên một số nơi rừng bắt đầu khôi phục, như vùng cửa sông ven biển tỉnh Bến Tre và tỉnh Cà Mâu.

c.Tiểu khu 3: Từ cửa sông Mỹ Thanh đến cửa sông Bảy Háp (tây nam bán đảo Cà Mâu)

Các quần xã cây ngập mặn

Các quần xã này phần lớn là dạng rừng già (đước, vẹt tách) có nhiều cây mắm biển lớn (đường kính 35-50cm), thân rỗng ruột, phân cành nhiều và thấp, dáng cây không thẳng, có khi xen lẫn một ít giá, mắm lưỡi đòng. Giá trị kinh tế kém, chủ yếu là rừng phòng hộ ven biển, phân bố dọc cửa sông Bồ Đề đến xóm Khai Long (Đất Mũi).

Hiện nay diện tích đang thu hẹp  do xói lở ở bờ biển phía đông.

Rừng trồng:

Chủ yếu là rừng trồng từ những năm 1940 tập trung nhiều ở khu rừng Kiểng. Cây cao 23-25m, đường kính 20 – 30cm, rừng thuần loại hoặc có ít dà, vẹt. Hiện nay đã bị khai thác nhiều để làm đầm tôm, hoặc chặt phá.

Rừng đước trồng từ 1975 đến nay trên đất bị rải chất độc hóa học hoặc rừng đã khai thác. Hiện nay loại rừng 9 tuổi đã cao 8 – 9m, đường kình 4-6cm, loại 4-5 tuổi đang kép tán. Cả hai loại rừng này đều cần tỉa thưa.

Vào cuối thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 90, nhiều khu rừng trồng đã bị phá làm đầm tôm.

Rừng dừa nước được nhân dân trồng ven các kênh rạch sâu trong nội địa. Giá trị kinh tế lớn.

d.Tiểu khu 4: Từ cửa sông Bảy Háp (mũi Bà Quan) đến mũi Nãi – Hà Tiên (bờ biển phía tây bán đảo Cà Mâu)

Về khí hậu, có nhiều đặc điểm thuận lợi cho các loài cây nước lợ sinh trưởng nhưng do ít trầm tích nên CNM không xâm nhập sâu, thường chúng chỉ tạo thành 1 quần xã ở đường viền ven biển: thành phần chủ yếu là mắm trắng, mắm lưỡi đòng đôi khi có một số cây đưng mọc rải rác xen lẫn với mắm. Kích thước cây cững không quá 15m. Phía trong rừng mắm là rừng tràm (Melaleuca cajuputi) hoặc có khi ngoài là rừng mắm rồi đến cánh đồng lúa tiếp đó là rừng tràm.

Ở đảo Hòn Tre (Rạch Giá) thảm thực vật ngập mặn cũng chỉ hình thành những mảng nhỏ dọc bờ biển phía đông của đảo. Quần xã gồm thành phần chủ yếu đước dạng cây gỗ nhỏ cao từ 2-6m. Ngoài ra có sú, mắm biển, xu ổi trên đất ít ngập có tra lâm vồ, thiên lý dại, vạng hôi và có các dạng cây thảo như ráng,cốc kèn (Ngân, Kiệt và Thùy 1967).

1.1.3. Đánh giá hiện trạng về chất lượng, giá trị đa dạng sinh học… rừng ngập mặn ven biển

Số lượng các loài sinh vật nổi vận động theo thuỷ triều vào RNM rất biến động theo thời gian và theo các địa điểm. Cá trong RNM chủ yếu là những loài sống định cư ở những nơi còn tồn đọng nước hay các đầm nuôi thuỷ sản, trừ những “khách vãng lai” ra vào theo thuỷ triều. Tương tự như cá, động vật đáy thường là những loài sống định cư cả đời hoặc ở phần lớn những giai đoạn phát triển sớm của sự phát triển cá thể của chúng trong RNM. Đối với chim, một số loài là cư dân chính thức của RNM, nhiều loài như mòng két, ngỗng, vịt trời, giang, sếu… là những chim di cư từ phương bắc về tránh rét trong mùa đông. Phần lớn chúng coi RNM cửa sông nước ta là trạm dừng chân trên hành trình bay xuống các vùng nhiệt đới xích đạo phía Nam kể cả phần bắc của Nam bán cầu như Australia.

Nhiều loài tôm, cua, cá sống ở rừng ngập mặn và cửa sông, khi thành thục, lại tìm ra vùng biển sâu hoặc sâu hơn để giao phối và đẻ trứng. Thời gian trứng phát triển đến giai đoạn hậu ấu trùng phải trải qua 14 – 17 ngày, khoảng thời gian cần thiết để chúng trôi dạt từ bãi đẻ vào vùng cửa sông và RNM (Frusker, 1983; Gwyther, 1993). Ngược lại, trong thời gian ngập triều, trong RNM có thể gặp cá con của nhiều loài cá thuộc vùng nước nông thềm lục địa vào RNM cửa sông kiếm ăn và tránh kẻ thù. Nhiều loài cá đẻ trứng hoặc ấu trùng của chúng sống trong các kênh rạch vùng RNM.

Nhiều loài động vật biển khác cũng xâm nhập vào RNM để kiếm ăn. Nhờ vậy, RNM trở thành “cái nôi” ương nuôi những ấu thể của nhiều loài động vật biển, nơi dinh dưỡng của không ít những loài động vật trưởng thành. Một số loài cá và giáp xác coi RNM cửa sông là địa bàn bắt buộc của sự phát triển cá thể ở những giai đoạn sớm của đời sống (Tạng, 1994).

Đối với nhiều động vật trên cạn mà cuộc sống gắn liền với bãi triều, chúng thường xuất hiện đông đúc khi nước ròng và phơi bãi. Những lạch triều cạn, những vũng nước sót lại và các bãi bùn… là nơi tập trung của các loài chim như gà nước (Rallus sp.), choi choi (Charadrius sp.), choắt (Numenius sp., Triga sp.), giẽ giun (Gallinago sp.), cà kheo (Himantopus sp.), cò bợ (Ardeola sp.), diệc (Ardea sp.), … Sát mép nước là các loài vịt trời (Anas sp.), mòng biển (Larussp.), ngỗng trời (Anser anser)… nhiều loài rắn (Chrysoplea lernata), cầy, lợn rừng (Sus scrofa) từ nơi cao cũng xuống bãi tìm kiếm thức ăn. Điều đó một lần nữa khẳng định rằng, RNM là một trong những hệ sinh thái quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học cho đới biển ven bờ, đồng thời duy trì nguồn lợi sinh vật tiềm tàng cho sự phát triển bền vững trước hết đối với nghề cá.

1.1.3.1. Vùng ven biển có RNM ở Đông Bắc (Khu vực 1 – KV1): Trường hợp nghiên cứu huyện Tiên Yên, Quảng Ninh

Tài nguyên sinh học KV1 khá phong phú, tuy nhiên do khai thác quá mức nên nguồn lợi đang cạn kiệt, và hệ sinh thái cũng suy thoái nghiêm trọng, chỉ ở một số đảo nhỏ là còn tương đối.

Thực vật

Thành phần thực vật ở khu Đông Bắc nói chung và Tiên Yên nói riêng mang tính chất của hệ thực vật á nhiệt đới gần giống với thực vật ở bờ biển tỉnh Phúc Kiến, đảo Đài Loan (Trung Quốc) và đảo Irimote thuộc quần đảo Ryu Kyu – Nhận Bản.

Theo Phan Nguyên Hồng (1991), hệ thực vật có 16 loài cây chủ yếu thuộc 14 họ và 34 loài tham gia RNM thuộc 17 họ. Thảm thực vật chỉ có các quần xã cây thích nghi với độ mặn cao:

  1. Quần thể mắm biển (Avicennia marina) phân bố ở trên các bãi cát và bãi đang bồi, đây là quần thể tiên phong trên đất ngập triều trung bình thấp.
  2. Quần xã đâng (Rhizophora stylosa) – trang (Kandelia obovata) – sú (Aegiceras corniculatum) sống trên đất ngập triều trung bình. Trong quần xã này sự phân bố ở đường biên dọc sông nước mặn đôi khi xen lẫn ít mắm còn lại. Phía trong là đâng và trang mọc xen kẽ nhau.
  3. Quần xã đâng – trang – vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) phân bố trên đất ngập triều trung bình cao, loài ưu thế là đâng
  4. Quần xã vẹt dù – đâng, phân bố trên những bãi đất bùn hơi rắn hoặc các bãi có đá, chỉ ngập triều cao. Trong quần xã này vẹt dù là loài ưu thế.
  5. Quần thể vẹt dù, phân bố ở trên nền đá xương xẩu, ít khi ngập triều.
  6. Quần xã côi (Scyphiphora hydrophyllacea) – giá (Excoecaria agallocha) – cóc vàng (Lumnitzera racemosa) dạng cây bụi trên nền đất bùn hơi cứng, nhiều sỏi hoặc đất thoái hoá, chỉ ngập triều cao.
  7. Quần xã tra (Hibiscus tiliaceus) su ổi (Xylocarpus granatum) – hếp (Scaevola taccada) phân bố trên các bờ biển có đất mặn ít khi ngập triều. Trong quần xã này còn có nhiều loài cây chịu mặn khác như đậu tím (Pongamia glabra), cui biển (Heritiera littoralis), vạng hôi (Pandanus tonkinensis), ráng (Acrostichum aureum) và nhiều loài thân cỏ.

Động vật đáy: 71 loài thuộc 28 họ (Nhượng và Khắc 2003; Hồng và cs 2002)

Cá: 194 loài thuộc 70 họ (Tạng 2004)

Chim: 38 loài thuộc 17 họ (Sâm và cs 2005)

1.1.3.2. Vùng ven biển đồng bằng sông Hồng: Trường hợp nghiên cứu huyện Giao Thuỷ, Nam Định

 Thảm thực vật

Qua khảo sát vùng RNM các xã ven biển huyện Giao Thuỷ, Phan Nguyên Hồng và cs (2004) đã thống kê được tổng số 182 loài thuộc 137 chi của 60 họ thực vật có mạch. Lớp Hai lá mầm có số loài, chi và họ  nhiều nhất, 123 loài (chiếm 67,4% tổng số loài) thuộc 47 họ. Ngành Dương xỉ có số loài chiếm tỷ lệ ít nhất, 8 loài (4,3%) thuộc 6 chi của 5 họ. Các loài thuộc lớp Một lá mầm mặc dù chỉ có 51 loài (chiếm  28,3%) thuộc 8 họ (bảng 3) nhưng chúng là những loài có số lượng cá thể lớn trong các bãi cỏ, ngập nước triều định kỳ hoặc triều cao.

Bảng 3. Số lượng các loài thực vật tìm thấy trong vùng RNM ven biển huyện Giao Thủy

 

Taxon Họ Chi Loài
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Bình luận

Tin tức mới

Tổng quan về rừng ngập mặn Việt Nam (Phần 3)

Tổng quan về rừng ngập mặn Việt Nam (Phần 3)

Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc (theo quyết định số 03/2001/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 5/1/2001) công bố tháng 7/2001 do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng tiến hành, diện tích rừng ngập mặn (RNM) Việt Nam tính đến ngày 21/12/1999 là 156.608ha.

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit, sed diam nonummy nibh euismod

Danh sách Tag