MAB Việt Nam Tin tức và Sự kiện Các khu Dự trữ Sinh quyển Giáo dục MT và GD vì PTBV MAB Vietnam News and Event Biosphere Reserves Environmental Education Home      

HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶN

TÌM HIỂU NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HỆ SINH THÁI RỪNG NGẬP MẶNTRÊN THẾ GIỚI

 

 

 

Phân loại cây ngập mặn

Chương trình hành động Rừng ngập mặn

Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu rừng ngập mặn toàn cầu

Hiệp hội Quốc tế Hệ sinh thái Rừng ngập mặn

Quĩ vườn thực vật ngập mặn

Rừng ngập mặn và Công ước Ramsar 

Bảo tồn Rừng ngập mặn

Rừng ngập mặn Florida

Nuôi trồng thuỷ sản

Nuôi thuỷ sản và Rừng ngập mặn

Mạng lưới nghiên cứu Thuỷ sản vùng Đông Nam Á

Câu hỏi và trả lời về Rừng ngập mặn

Sổ tay Rừng ngập mặn

Cây ngập mặn có thể sinh trưởng

và phát triển trong những điều kiện hết sức đặc biệt

 
 

I. Tổng quan về rừng ngập mặn Việt Nam  1.1. Hiện trạng và xu thế biến đổi hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Việt Nam

1.1.1. Diện tích rừng ngập mặn Việt Nam

Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc (theo quyết định số 03/2001/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 5/1/2001) công bố tháng 7/2001 do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng tiến hành, diện tích rừng ngập mặn (RNM) Việt Nam tính đến ngày 21/12/1999 là 156.608ha. Trong đó diện tích RNM tự nhiên là 59.732ha chiếm 38,1% và diện tích RNM trồng là 96.876ha chiếm 61,95%. Trong số diện tích RNM trồng ở Việt Nam, rừng đước (Rhizophora apiculata) trồng chiếm 80.000ha (82,6%), còn lại 16.876ha là rừng trồng trang (Kandelia obovata), bần chua (Sonneratia caseolaris) và các loại cây ngập mặn trồng khác (17,4%) (Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, 2001).

Cho đến nay, các số liệu thống kê về diện tích RNM ở Việt Nam không thống nhất.

- Kết quả thống kê diện tích rừng ngập mặn từ các tỉnh ven biển Việt Nam tập hợp lại (Sâm và cs. 2005), tính đến tháng 12/2001 thì Việt Nam có tổng diện tích RNM khoảng 155.290ha, chênh lệch 1.318ha so với số liệu kiểm kê rừng toàn quốc tháng 12/1999 (156.608ha). Trong đó diện tích RNM tự nhiên chỉ có 32.402ha chiếm 21%, diện tích RNM trồng 122.892ha chiếm 79%.

Bảng 1. Phân bố diện tích đất ngập mặn và RNM theo tỉnh và thành phố ven biển Việt Nam                        (tính đến tháng 12/2001)

TT

Tỉnh/Thành phố

Diện tích đất ngập mặn

Diện tích có RNM

Diện tích không có RNM

Diện tích đầm nuôi tôm nước lợ

Diện tích (ha)

%

DT  (ha)

%

DT  (ha)

%

DT  (ha)

%

Tổng số

606.782

100,0

155.290

100.0

225.394

100.0

226.075

100.0

1

Quảng Ninh

65.000

10,7

22.969

14.8

27.194

12.1

14.837

6.6

2

TP Hải Phòng

17.000

2,8

11.000

7.1

1.000

0.4

5.000

2.2

3

Thái Bình

23.675

3,9

6.297

4.0

14.526

6.4

2.852

1.3

4

Nam Định

14.843

2,4

3.012

1.9

6.031

2.7

5.800

2.6

5

Ninh Bình

1.817

0,3

533

0.3

1.084

0.5

200

0.1

6

Thanh Hoá

18.000

3,0

1.000

0.6

15.848

7.0

1.152

0.5

6

Thanh Hoá

18.000

3,0

1.000

0.6

15.848

7.0

1.152

0.5

7

Nghệ An

3.974

0,6

800

0.5

2.137

0.9

1.035

0.4

8

Hà Tĩnh

9.000

1,5

500

0.3

8.182

3.6

918

0.1

9-19

10 tỉnh và tp miền Trung còn lại

13.068

2,1

700

0.4

-

-

12.368

5.5

20

Bà Rịa – Vũng Tàu

37.100

6,1

1.500

1.0

34.360

15.2

1.240

0.5

21

Tp Hồ Chí Minh

30.000

4,9

24.592

15.8

3.180

1.4

2.228

1.0

22

Long An

1.750

0,3

400

0.2

300

0.1

4.050

0.5

23

Bến Tre

36.276

6,0

7.153

4.6

9.023

4.0

20.100

8.9

24

Tiền Giang

2.828

0,5

560

0.4

120

0.05

2.148

0.9

25

Trà Vinh

39.070

6,4

8.582

5.5

55.007

9.8

8.481

3.7

26

Sóc Trăng

34.834

5,7

2.943

1.9

6.423

2.8

25.468

11.3

27

Bạc Liêu

26.107

4,3

4.142

2.7

1.411

0.6

20.533

9.1

28

Cà Mau

222.003

36,6

5.285

37.5

71.718

31.8

92.000

40.7

29

Kiên Giang

10.437

1,7

322

0.2

850

0.4

9.265

4.1

Nguồn: Đỗ Đình Sâm và cs. 2005

 

            - Theo quyết định số 1116/QĐ.BNN-KL ngày 18/5/2005 của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn về việc công bố diện tích rừng và đất chưa sử dụng toàn quốc năm 2003 là 68.276ha và 2004 là 68.035ha trong đó rừng đặc dụng là 12.761ha, rừng phòng hộ 42.221ha và rừng sản xuất 13.053ha.

1.1.2. Phân bố địa lý rừng ngập mặn ven biển

Dựa vào các yếu tố địa lý, khảo sát thực địa và một phần kết quả ảnh viễn thám, Phan Nguyên Hồng (1991) đã chia RNM Việt Nam ra làm 4 khu vực và 12 tiểu khu (hình 3).

Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn

Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ, từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường

Khu vực III: Ven biển Trung Bộ: Từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu

Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải, Hà Tiên.

1.1.2.1. Khu vực I: Ven biển Đông Bắc         

            Bờ biển Đông Bắc là khu vực phức tạp nhất, thể hiện trong các đặc điểm về địa mạo, thủy văn và khí hậu; có những mặt thuận lợi cho sự phân bố của RNM, nhưng cũng có những nhân tố hạn chế sự sinh trưởng và mức độ phong phú của các loài cây, trong đó nhiệt độ có vai trò quan trọng.

            Khu vực I có 1 hệ thực vật ngập mặn tương đối phong phú, gồm những loài chịu mặn cao, không có các loài ưa nước lợ điển hình, trừ các bãi lầy nằm sâu trong nội địa như Yên Lập và một phần phía nam sông Bạch Đằng, do chịu ảnh hưởng mạnh của dòng chảy.

            Đáng chú ý là những loài phổ biển ở đây như đâng, vẹt dù, trang, lại rất ít gặp ở RNM Nam Bộ. Có những loài chỉ phân bố ở khu vực này như chọ, hếp Hải Nam. Ngược lại nhiều loài phát triển mạnh ở Nam Bộ về cả kích thước và phân bố lại không có mặt ở khu vực I.

            Khu vực I được chia làm 3 tiểu khu:

a. Tiểu khu 1

            Từ Móng Cái đến Cửa Ông, bờ biển dài khoảng 55 km. Tiểu khu này gồm lưu vực cửa sông KaLong, lưu vực vịnh Tiên Yên - Hà Cối và vùng ven bờ cửa sông Tiên Yên - Ba Chẽ.

            Vùng cửa sông Tiên Yên - Ba Chẽ được giới hạn đường bờ từ Đầm Hà đến Cửa Ông, phía ngoài là các lạch triều sâu ngăn cách với hệ thống đảo chắn Cái Bầu, Cái Chiên tạo thành cửa sông hình phễu Tiên Yên - Ba Chẽ (Cự và cs, 1996) với nhiều hòn đảo lớn nhỏ có rừng nhiệt đới trên cạn và các viền RNM ven bờ và quanh các đảo. 

            Tiểu khu này có tính chất thuỷ triều khá thuần nhất nhưng lòng sông dốc nên cây ngập mặn không phân bố sâu vào nội địa; độ mặn tương đối cao (bình quân 26‰/năm) phù hợp với sinh trưởng của các loài chịu mặn cao. Mặc dù có các quần đảo che chắn ở phía ngoài giúp giảm đáng kể tác động của gió mùa và bão tạo điều kiện thuận lợi cho sự phân bố của cây ngập mặn nhưng về mùa đông, khi gió mùa đông bắc tràn xuống thì nhiệt độ không khí, nước và đất giảm xuống đột ngột do đó một số loài không thích nghi nổi, các loài khác chịu được lạnh thì bị kìm hãm về kích thước.

            Ở các rừng nguyên sinh ít bị tác động của con người, cây cao nhất cũng chỉ 8 - 10 m như vẹt dù, đâng, mắm biển. Các bãi triều ở tây nam bán đảo Trà Cổ, Mũi Chùa, cửa sông Tiên Yên, cửa sông Ba Chẽ, RNM phát triển mạnh.

            Nguyễn Đức Cự và cs (1996) đã tính được diện tích đất ngập nước triều có phủ thực vật ngập mặn (TVNM) ở tiểu khu gồm: 13.522 ha chia làm 3 vùng (bảng 2).

Bảng 2. Diện tích bãi triều cao có rừng ngập mặn Tiểu khu 1 từ cửa sông KaLong đến Cửa Ông

Địa điểm

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

Diện tích RNM tự nhiên (ha)

Diện tích thảm cây bụi thưa có vỏ (ha)

Tỷ lệ đất có RNM (%)

Vùng cửa sông KaLong (từ thị trấn Móng Cái đến Trà Cổ)

10.707

100

503

635

10,6

Vùng cửa sông Đầm Hà - Hà Cối (từ Đầm Hà đến mũi Ngọc)

42.971

100

1.454

1.795

7,5

Ven bờ cửa sông Tiên Yên - Ba Chẽ (từ Đầm Hà đến Cửa Ông)

31.268

100

4.038

5.097

29,2

Tổng cộng

849.46

100

5.995

7.527

 

Nguồn: Nguyễn Đức Cự  và cs 1996

b. Tiểu khu 2: Từ Cửa Ông đến Cửa Lục (dài khoảng 40km)

            Mặc dầu có một hệ thống quần đảo khá dầy che chắn sóng, gió ở phía ngoài (Bái Tử Long, Hạ Long), độ mặn ít thay đổi, nhưng do nhiệt độ mùa đông thấp, lượng mưa không cao, phù sa ít, cho nên RNM dọc thành phố Hạ Long không thể phát triển rộng, mà thường là những bãi hẹp, hoặc tạo thành những viền hẹp ở sát bờ biển.

            Tác động của con người khá mạnh vào các vùng RNM trong quá trình khai thác than, nhiều bãi triều có RNM bị lấp (Cọc 3, Hồng Gai) do đất đá thải từ mỏ xuống. Sự mở rộng đô thị cũng lấp đất, nên diện tích RNM ngày càng thu hẹp.

          Diện tích RNM còn lại rất nhỏ, khoảng 380 ha (Cự và cs, 1996).

c. Tiểu khu 3: Từ Cửa Lục đến mũi Đồ Sơn (dài khoảng 55 Km)

            Tiểu khu này nằm trong hệ thống cửa sông hình phễu Hải Phòng - Quảng Yên (Thạnh và cs, 1985). Địa hình bằng phẵng hơn hai tiểu khu 1, 2; ít chịu tác động của sóng lớn nhờ các đảo đá vôi ở cuối vịnh Hạ Long và các đảo lớn khác chắn ngoài như Cát Hải, Phù Long.

Một hệ thống sông tương đối lớn và kênh rạch đã chuyển phù sa ra ngoài cửa sông và được giữ lại,  tạo nên những hòn đảo nổi gồm toàn cây ngập mặn như đảo Cái Viềng, Hòn Soài, Vũ Yên...

            Nhìn chung trầm tích ở tiểu khu 3 phong phú hơn tiểu khu 2 và tiểu khu 1 nên RNM phát triển rộng và kích thước cây tương đối lớn. Các cụ già ở đảo Hoàng Tân cho biết: vào thế kỷ trước rừng ở đây rậm, cây cao 5 - 8 m có nhiều động vật và hải sản quí. Các luồng lạch có khuynh hướng mở rộng kết hợp với biển lấn nên thu hẹp diện tích bãi triều có thực vật ngập mặn ở phía biển. Nước mặn cũng ngược dòng sông Kinh Thày vào địa phận Đông Triều cách cửa sông khoảng 60 km kéo theo các loài cây nước lợ.

Tác động của con người khá lớn. Do mật độ dân số tăng nhanh ở vùng ven biển từ đầu thế kỷ 20 đến nay nên sự tàn phá RNM cũng xảy ra mạnh mẽ. Việc phá rừng để lấy đất sản xuất nông nghiệp trên qui mô lớn trước đây và việc đắp đầm nuôi tôm quảng canh tràn lan đã thu hẹp diện tích RNM huyện Yên Hưng và thị xã Uông Bí. Mặt khác việc khai thác quá mức cây ngập mặn để làm củi cũng khá phổ biến. Do đó mà ở tiểu khu này không còn dấu vết rừng nguyên sinh như tiểu khu 1. Việc đắp đê bao vây đảo Hà Nam và đảo Cát Hải tạo thành một bức ngăn làm cho độ mặn chênh lệch nhau giữa hai phần phía Bắc và phía Nam đã ảnh hưởng đến sự phân bố của một số loài cây ngập mặn.   

Theo N. Đ. Cự và cs (1996) thì tổng diện tích đất ngập triều có phủ thực vật ngập mặn ở vịnh Cửa Lục là 2.184 ha chiếm 30% diện tích các kiểu đất ngập triều (7.237 ha). Các dải RNM ở vùng này phần lớn phân bố dọc ven biển huyện Hoành Bồ và một số bãi nổi. Tuy lưu lượng sông yếu nhưng nhờ vị trí kín sóng, độ mặn ổn định nên thực vật ngập mặn có điều kiện phát triển.

            Nhưng gần đây do việc khai hoang lấn biển của quân khu 3 và địa phương nên RNM đang bị thu hẹp, môi trường đang thoái hóa (Hồng, 1994). Ở phía nam tiểu khu (trong phạm vi cửa sông Bạch Đằng từ Yên Lập đến Đồ Sơn) RNM trước đây phát triển mạnh với thành phần cây nước lợ ưu thế, nhưng do việc phá rừng và phát triển đầm nuôi tôm nên rừng bị suy giảm. Diện tích RNM còn 7.037 ha, chiếm 9% tổng diện tích đất ngập triều, trong đó có 5.259 ha là rừng dày và 800 ha  rú bụi (Cự và cs, 1996). RNM tự nhiên là những dải nhỏ hẹp bao quanh các đầm nuôi hải sản cửa sông như đầm Nhà Mạc, Hà An, Đảo Công, Yên Lập, Uông Bí (Quảng Ninh), Phù Long, Tràng Cát, Lạch Tray và bắc Thủy Nguyên (Hải Phòng).

            Đến giữa năm 1996, khu kinh tế công nghiệp Đình Vũ - Hải Phòng được hình thành trên cơ sở bỏ toàn bộ thảm thực vật ngập mặn tự nhiên ở đó với diện tích trên 1.000 ha (tổng số diện tích bán đảo Đình Vũ là 1.324 ha) chỉ dành 21 ha trồng cây bóng mát, cây cảnh làm vườn thực vật dùng cho việc giải trí cùng với các loài cây xen giữa các cơ sở khu công nghiệp, thương mại dân cư (Sở kinh tế đối ngoại Hải Phòng 5/1996).

            Việc mất thảm thực vật RNM phòng hộ đang gây ra hiện tượng xói lở bờ biển ở Đình Vũ.

1.1.2.2. Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ

Khu vực này chia làm hai tiểu khu

a. Tiểu khu 1: Từ mũi Đồ Sơn đến cửa sông Văn Úc.

            Đây là vùng chuyển tiếp giữa khu vực I và II.

            Địa hình: từ Đồ Sơn đến bờ bắc sông Văn Úc, cửa sông có dạng hình phễu với các đảo cát ngầm trước cửa sông, ngăn cản một phần cường độ của sóng, mặt khác mũi Đồ Sơn cũng góp phần che chắn, nên RNM có thể phân bố ở dọc các cửa sông. Do bờ biển bị xói lở nên không có dải cây ngập mặn cửa sông.

            Điều đáng lưu ý ở tiểu khu này, cũng như tiểu khu 2 là do tốc độ quai đê lấn biển tương đối nhanh, ngăn nước mặn vào sâu trong đất liền, do đó mà RNM chỉ phân bố ở trong cửa sông.

            Quần xã cây ngập mặn gồm những loài ưa nước lợ, trong đó loài ưu thế nhất là bần chua phân bố ở vùng cửa sông (Kiến Thụy, Tiên Lãng), cây cao 5-10m. Dưới tán của bầnô rô, tạo thành tầng cây bụi; một số nơi có xen lẫn hai loài sau hoặc phát triển thành từng đám. Trong những năm gần dây do phát triển đầm tôm nên các rừng bần cũng bị phá nhiều và thu hẹp diện tích.

b. Tiểu khu 2: Từ cửa sông Văn Úc đến cửa Lạch Trường, nằm trong khu vực bồi tụ của hệ sông Hồng

            Ở đây cũng có một số điều kiện thuận lợi cho cây nước lợ như: địa hình phẳng, bãi triều rộng, giàu phù sa, lượng nước ngọt nhiều về mùa mưa. Nhưng do địa hình trống trải, các bãi tương đối bằng phẳng nên chịu tác động mạnh của sóng do gió bão tạo nên, đây là một yếu tố ngăn cản RNM hình thành tự nhiên ở vùng ven biển tiểu khu này.

Dọc từ bờ nam của cửa sông Văn Úc (huyện Thụy Hải), trước đây rừng bần chua phát triển mạnh, diện tích khá rộng. Trong cửa sông như cửa sông Trà Lý, Ninh Cơ, cửa sông Lèn, cửa Lạch Trường và một số lạch thì cây ngập mặn phát triển. Quần xã chủ yếu là ô rô. Thỉnh thoảng có xen lẫn ít trangbần chua. Tuy nhiên phạm vi phân bố hẹp vì dòng sông ít dốc và chịu ảnh hưởng mạnh của nước ngọt.

Do khai thác quá mức nên cây không phát triển được, thường là dạng bụi thấp, cằn cỗi.

Để bảo vệ đê, nhân dân ven biển huyện Thái Thụy, Tiền Hải (Thái Bình) và huyện Giao Thủy (Nam Định) đã trồng được những dải rừng trang gần như thuần loại ở phía ngoài đê. Đây là một cuộc đấu tranh khốc liệt với thiên nhiên, tỷ lệ sống rất thấp, nhưng với quyết tâm lớn những rừng trang với cây cao 4-5 m, đường kính 5-10 cm đã hình thành dọc theo đê biển, có tác dụng giữ  đất bồi, bảo vệ đê mấy chục năm vừa qua. Việc trồng trang cũng đã tạo điều kiện cho một số loài tái sinh tự nhiên như sú, bần chua; là môi trường sống cho nhiều hải sản và chim di cư.

Hiện nay ở tiểu khu này có khoảng 8.000 ha RNM, chủ yếu là rừng trồng hỗn hợp trang, bần chua và đâng để bảo vệ đê trong những năm gần đây.

1.1.2.3. Khu vực III: Ven biển Trung bộ: từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu

Do địa hình trống trải sóng lớn, bờ dốc nên nói chung không có RNM dọc bờ biển, trừ các bờ biển hẹp phía Tây các bán đảo nhỏ ở Nam Trung Bộ như bán đảo Cam Ranh, bán đảo Quy Nhơn (nay rừng ở đây đã không còn do bị phá làm đầm tôm). Chỉ ở phía trong các cửa sông, cây ngập mặn mọc tự nhiên, thường phân bố không đều, do ảnh hưởng của địa hình và tác động của cát bay.

Dựa vào đặc điểm địa mạo, thủy văn, có thể chia bờ biển Trung bộ làm 3 tiểu khu:

a.Tiểu khu 1: Từ Lạch Trường đến Mũi Ròn

Ở các cửa sông nhỏ phía nam, có doi cát do sóng bồi đắp đã tạo nên những vịnh (lagoon) nhỏ. ở các bãi triều nằm sau doi cát, trước đây RNM phát triển khá phong phú, nhưng nay đã bị chặt phá hết. Mặt khác nhân dân địa phương đắp đê lấy đất sản xuất nông nghiệp nên RNM có chỗ phân bố hẹp.

Ở sát các cửa sông lớn như sông Mã, sông Lam, lòng sông luôn thay đổi, bên lở bên bồi, các bãi phù sa không ổn định và được nâng lên hoặc bị xói lở nhanh nên không có loài cây nào tồn tại lâu.

Thảm thực vật nước lợ thường phân bỗ ở phía trong cách cửa sông 100-300m. Ví dụ như rừng bần chua ở trong cửa sông phân bỗ dọc theo sông ở xã Hưng Hòa, thành phố Vinh, từ Xuân Hội đến Xuân Tiên - Hà Tĩnh. Thành phần ưu thế là bần chua, kích thước cây khá lớn: cao trung bình 6-8m, đường kính 20-30cm. Rừng bần ở Hưng Hòa có nhiều cây có đường kính 1 - 1,3 m, nhưng hàng năm bị chặt hết phần cành nên cây không cao Về mùa khô lá rụng hết, trên cành có địa y hình cành bì sinh thành từng đám lớn.

Dưới tán bần là thảm ô rô dày đặc, thỉnh thoảng có vài đám cói hoặc xen lẫn ô rô. Trên nền đất ngập triều cao có ráng, vạng hôi, mớp sát giá. Trong những năm gần đây, dòng sông đổi hướng đã gây xói lở một số xã, trong đó có rừng bần ở Xuân Hội, Xuân Trường.

Trong chiến tranh và những năm hòa bình, các dải rừng bị tàn phá nặng nề, có chỗ bây giờ không còn vết tích rừng, có chỗ cây cằn cỗi thành dạng rú bụi thấp. Do đắp đập nên nhiều nơi nước đã bớt mặn và bần chua tái sinh tự nhiên khá nhanh; vài chỗ đã trồng lại rừng trang. Các bãi hoang với cỏ chịu mặn còn khá hơn.

Dọc một số sông nhỏ như sông Nghèn, sông Rào, sông Kinh (nam Hà Tĩnh) nước triều lấn sâu vào đất liền nên cũng có thảm thực vật ngập mặn, phía trong cửa sông có mắm, đâng, sú, vẹt dù; đi sâu vào các bãi sông nước lợ có quần xã bần chua ưu thế với các loài ô rô ở tầng thấp.

Trên bờ hoặc một số bãi cao có giá, cóc, vẹt dù, cui biển, mớp sát...(Hà Tĩnh) phát triển mạnh mẽ. Vào thập kỷ 40, rừng ở vùng này khá tốt, có những cây bần cao 8-10m, đường kính 25-30cm, nhưng do khai thác quá mức, do bom đạn nên rừng đã bị thoái hóa gần hết.

Hiện nay một số nơi mắm, ô rô đang tái sinh. Những chỗ đất thoái hóa thì sài hồ mọc dày đặc. Từ cuối thập kỷ 1990 đến 2004, việc trồng, phục hồi rừng phòng hộ từ chương trình 337, 661, đặc biệt là các dự án trồng RNM do NGOs tài trợ đã đem lại hiệu quả cao, và rừng phát triển tốt.

b. Tiểu khu 2: Từ mũi Ròn đến mũi đèo Hải Vân

Trước thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, RNM phát triển tốt dọc từ cửa sông vào như sông Ròn, sông Gianh, sông Đại Giang (Quảng Bình), sông Bến Hải, sông Cam Lộ,... Thảm thực vật ngập mặn ở bến phà Ròn và bến phà Gianh có chiều cao trung bình 6-8m. Loài ưu thế là đâng, vẹt dù, vẹt khang. Dưới tán của chúng có trang, sú, ô rô ở dạng bụi. Ngoài ra trên vùng đất chỉ ngập triều cao có giá, tra, tra lâm vồ, mớp sát, cui biển, vạng hôi.

Dọc các triền sông, vào sâu trong nội địa có những rừng bần chua ưu thế, kích thước cây lớn (cao 8-10m, đường kính 20-30cm), có chỗ cách xa biển tới gần 40km như xã Minh Cầm. Dưới tán bần là ô rô và cói cùng một số loài cỏ năn.

Phần phía nam tiểu khu 2 hình thành những đầm phá (lagoon) phần lớn nằm sau các cồn cát với toàn bộ diện tích vực nước 21.600ha, trong đó diện tích các bãi triều chiếm khoảng 1.600ha. Các bãi triều hẹp vì biên độ triều rất nhỏ (0,5m). Các bãi này phân bố không liên tục, thường chỉ rộng 50-100m, một phần đất bị quai đê để sản xuất nông nghiệp.

Do chịu ảnh hưởng mạnh của nước ngọt trong mùa lũ nên độ mặn giao động nhiều, từ 0,5 đến 28,12. Thành phần thực vật gồm bần chua, sú. Ngoài ra còn có đâng, vẹt dù, trang, ô rô. Nhân dân địa phương chặt phá cây làm củi nên thảm thực vật cằn cỗi ở dạng cây bụi. Riêng khu vực đầm Lăng Cô ở chân đèo Hải Vân rộng khoảng 1.500 ha, có diện tích bãi triều khoảng 300 ha còn lại một ít cây ngập mặn dạng bụi.

Thảm thực vật ngập mặn trước đây khá tốt, thành phần loài khá phong phú. Ngoài các loài đã gặp ở miền bắc còn một số loài khác phân bố chủ yếu ở miền nam như đưng, mắm trắng, bần ổi chịu độ mặn cao trong mùa khô (29-35,5) do địa hình kín, lượng bốc hơi nước cao như phía đông thôn An Cự. Đi xa cửa sông vào đất liền, nồng độ muối thấp dần do đầm nước ngọt từ các suối nhỏ như Hói Mít, Hói Dừa, Hói Cam, nên các loài ưa nước lợ phát triển: bần chua, ôrô, cốc kèn,...Trên bờ đầm giá, tra, cui biển, cóc vàng... ở những đất cát ướt có một số loài mọng nước thân cỏ như sam biển, muối biển mọc thành đám.

Hiện nay RNM ở Lăng Cô cũng bị tàn phá nhiều nên diện tích thu hẹp, số loài giảm.

c. Tiểu khu 3: Từ mũi đèo Hải Vân đến mũi Vũng Tàu

Dựa vào kết quả nghiên cứu của J. Barry, L. C. Kiệt, V. V. Cương (1961) ta thấy có các kiểu quần xã đước trước đây ở phía tây bán đảo Cam Ranh.

            - Quần xã đưng tiên phong trên đất thấp

            - Quần xã đưng và đước đôi trên đất chặt hơn với các loại xu ổi, vẹt dù, vẹt khang.

            - Quần xã mắm quănmắm lưỡi đòng với các loài côi, cóc biển, dà vôi

            - Trên đất ít khi ngập triều có quần xã cây gỗ giống như ở khu vực khác với các loài giá, xu, tra, vạng hôi, mớp sát...

- Quần xã nước lợ bần chuaô rô gai, mây nước...

            Hiện nay các quần xã này đã bị biến mất thay vào đấy là các ao ương tôm sú và đầm nuôi tôm

1.1.2.4. Khu vực IV:  Ven biển Nam Bộ

Có thể chia khu vực IV làm 4 tiểu khu

a. Tiểu khu 1: từ mũi Vũng Tàu đến cửa sông Soài Rạp (ven biển đông Nam Bộ)

            Trong chiến tranh hóa học hầu hết vùng RNM ở đây (rừng Sát) đã bị hủy diệt. Sau một thời gian rừng tái sinh nhưng do thiếu nguồn giống và do sự khai thác quá mức của dân địa phương vì thiếu củi đun nên nhiều chỗ không còn cây, đất bị thoái hóa nặng.

            Từ năm 1978 phần lớn diện tích vùng bị hủy diệt đã được trồng lại bằng loài đước.

            Từ năm 1990 cảnh sắc vùng này đã có nhiều biến đổi. Một số quần xã tự nhiên đang được phục hồi, nhiều loài động vật trên cạn và dưới nước đã đến sinh sống tạo ra sự đa dạng sinh học cao. Một số rừng trồng năm 1978 nay đã tỉa thưa được một khối gỗ, củi lớn.

b. Tiểu khu 2: Từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thanh (ven biển đồng bằng sông Cửu Long)

            Cho  đến 1990 chưa có một tài liệu chính thức nào viết riêng về RNM ở đồng bằng sông Cửu Long. Các tài liệu đã công bố trước đây (Maurand, 1943, Rollet 1962, Thôn, Lợi 1972, Trừng 1970 - 1978, Ross 1975) cũng chỉ nêu vài nét rất sơ lược về vùng này.

            Nhân dân địa phương cho biết cách đây 20 năm RNM khá tốt, che kín cả nhà cửa thôn ấp dọc các triền sông. Những gốc bần, gốc mắm bị chất độc hóa học phá hủy còn sót lại có kích thước khá lớn (có gốc đường kính tới 60cm) cũng đã xác minh điều đó.

            Cảnh sắc thực vật ngập hiện nay đã thay đổi hoàn toàn, chỉ trừ một số khoảnh rừng mắm trắng ven sông nhân dân giữ lại để bảo vệ đất vườn, nhà ở hoặc bần chua ở sát cửa sông, ven biển có kích thước tương đối lớn cùng với các dải dừa nước ven sông, còn lại là dạng trảng cây bụi hoặc trảng bụi gai... Có tình trạng đó là do hầu hết rừng bị hủy diệt bởi bom đạn và chất độc hóa học của Mỹ. Phần còn lại bị nhân dân chặt phá mạnh. Trên vùng đất bị rải chất độc hóa học còn ngập triều định kỳ CNM tái sinh khá nhanh, sau ngày giải phóng nhân dân lại tiếp tục khai thác cây làm củi, do đó rừng bị kiệt quệ.

            Trong vài năm gần đây việc trồng rừng đã được chú ý nên một số nơi rừng bắt đầu khôi phục, như vùng cửa sông ven biển tỉnh Bến Tre và tỉnh Cà Mâu.

c.Tiểu khu 3: Từ cửa sông Mỹ Thanh đến cửa sông Bảy Háp (tây nam bán đảo Cà Mâu)

Các quần xã cây ngập mặn

            Các quần xã này phần lớn là dạng rừng già (đước, vẹt tách) có nhiều cây mắm biển lớn (đường kính 35-50cm), thân rỗng ruột, phân cành nhiều và thấp, dáng cây không thẳng, có khi xen lẫn một ít giá, mắm lưỡi đòng. Giá trị kinh tế kém, chủ yếu là rừng phòng hộ ven biển, phân bố dọc cửa sông Bồ Đề đến xóm Khai Long (Đất Mũi).

            Hiện nay diện tích đang thu hẹp  do xói lở ở bờ biển phía đông.

Rừng trồng:

Chủ yếu là rừng trồng từ những năm 1940 tập trung nhiều ở khu rừng Kiểng. Cây cao 23-25m, đường kính 20 - 30cm, rừng thuần loại hoặc có ít dà, vẹt. Hiện nay đã bị khai thác nhiều để làm đầm tôm, hoặc chặt phá.

            Rừng đước trồng từ 1975 đến nay trên đất bị rải chất độc hóa học hoặc rừng đã khai thác. Hiện nay loại rừng 9 tuổi đã cao 8 - 9m, đường kình 4-6cm, loại 4-5 tuổi đang kép tán. Cả hai loại rừng này đều cần tỉa thưa.

            Vào cuối thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 90, nhiều khu rừng trồng đã bị phá làm đầm tôm.

            Rừng dừa nước được nhân dân trồng ven các kênh rạch sâu trong nội địa. Giá trị kinh tế lớn.

d.Tiểu khu 4: Từ cửa sông Bảy Háp (mũi Bà Quan) đến mũi Nãi - Hà Tiên (bờ biển phía tây bán đảo Cà Mâu)

            Về khí hậu, có nhiều đặc điểm thuận lợi cho các loài cây nước lợ sinh trưởng nhưng do ít trầm tích nên CNM không xâm nhập sâu, thường chúng chỉ tạo thành 1 quần xã ở đường viền ven biển: thành phần chủ yếu là mắm trắng, mắm lưỡi đòng đôi khi có một số cây đưng mọc rải rác xen lẫn với mắm. Kích thước cây cững không quá 15m. Phía trong rừng mắm là rừng tràm (Melaleuca cajuputi) hoặc có khi ngoài là rừng mắm rồi đến cánh đồng lúa tiếp đó là rừng tràm.

            Ở đảo Hòn Tre (Rạch Giá) thảm thực vật ngập mặn cũng chỉ hình thành những mảng nhỏ dọc bờ biển phía đông của đảo. Quần xã gồm thành phần chủ yếu đước dạng cây gỗ nhỏ cao từ 2-6m. Ngoài ra có sú, mắm biển, xu ổi trên đất ít ngập có tra lâm vồ, thiên lý dại, vạng hôi và có các dạng cây thảo như ráng,cốc kèn (Ngân, Kiệt và Thùy 1967).

1.1.3. Đánh giá hiện trạng về chất lượng, giá trị đa dạng sinh học… rừng ngập mặn ven biển

Số lượng các loài sinh vật nổi vận động theo thuỷ triều vào RNM rất biến động theo thời gian và theo các địa điểm. Cá trong RNM chủ yếu là những loài sống định cư ở những nơi còn tồn đọng nước hay các đầm nuôi thuỷ sản, trừ những “khách vãng lai” ra vào theo thuỷ triều. Tương tự như cá, động vật đáy thường là những loài sống định cư cả đời hoặc ở phần lớn những giai đoạn phát triển sớm của sự phát triển cá thể của chúng trong RNM. Đối với chim, một số loài là cư dân chính thức của RNM, nhiều loài như mòng két, ngỗng, vịt trời, giang, sếu… là những chim di cư từ phương bắc về tránh rét trong mùa đông. Phần lớn chúng coi RNM cửa sông nước ta là trạm dừng chân trên hành trình bay xuống các vùng nhiệt đới xích đạo phía Nam kể cả phần bắc của Nam bán cầu như Australia.

            Nhiều loài tôm, cua, cá sống ở rừng ngập mặn và cửa sông, khi thành thục, lại tìm ra vùng biển sâu hoặc sâu hơn để giao phối và đẻ trứng. Thời gian trứng phát triển đến giai đoạn hậu ấu trùng phải trải qua 14 – 17 ngày, khoảng thời gian cần thiết để chúng trôi dạt từ bãi đẻ vào vùng cửa sông và RNM (Frusker, 1983; Gwyther, 1993). Ngược lại, trong thời gian ngập triều, trong RNM có thể gặp cá con của nhiều loài cá thuộc vùng nước nông thềm lục địa vào RNM cửa sông kiếm ăn và tránh kẻ thù. Nhiều loài cá đẻ trứng hoặc ấu trùng của chúng sống trong các kênh rạch vùng RNM.

            Nhiều loài động vật biển khác cũng xâm nhập vào RNM để kiếm ăn. Nhờ vậy, RNM trở thành “cái nôi” ương nuôi những ấu thể của nhiều loài động vật biển, nơi dinh dưỡng của không ít những loài động vật trưởng thành. Một số loài cá và giáp xác coi RNM cửa sông là địa bàn bắt buộc của sự phát triển cá thể ở những giai đoạn sớm của đời sống (Tạng, 1994).

            Đối với nhiều động vật trên cạn mà cuộc sống gắn liền với bãi triều, chúng thường xuất hiện đông đúc khi nước ròng và phơi bãi. Những lạch triều cạn, những vũng nước sót lại và các bãi bùn… là nơi tập trung của các loài chim như gà nước (Rallus sp.), choi choi (Charadrius sp.), choắt (Numenius sp., Triga sp.), giẽ giun (Gallinago sp.), cà kheo (Himantopus sp.), cò bợ (Ardeola sp.), diệc (Ardea sp.), ... Sát mép nước là các loài vịt trời (Anas sp.), mòng biển (Larus sp.), ngỗng trời (Anser anser)... nhiều loài rắn (Chrysoplea lernata), cầy, lợn rừng (Sus scrofa) từ nơi cao cũng xuống bãi tìm kiếm thức ăn. Điều đó một lần nữa khẳng định rằng, RNM là một trong những hệ sinh thái quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học cho đới biển ven bờ, đồng thời duy trì nguồn lợi sinh vật tiềm tàng cho sự phát triển bền vững trước hết đối với nghề cá.

1.1.3.1. Vùng ven biển có RNM ở Đông Bắc (Khu vực 1 – KV1): Trường hợp nghiên cứu huyện Tiên Yên, Quảng Ninh

            Tài nguyên sinh học KV1 khá phong phú, tuy nhiên do khai thác quá mức nên nguồn lợi đang cạn kiệt, và hệ sinh thái cũng suy thoái nghiêm trọng, chỉ ở một số đảo nhỏ là còn tương đối.

Thực vật

            Thành phần thực vật ở khu Đông Bắc nói chung và Tiên Yên nói riêng mang tính chất của hệ thực vật á nhiệt đới gần giống với thực vật ở bờ biển tỉnh Phúc Kiến, đảo Đài Loan (Trung Quốc) và đảo Irimote thuộc quần đảo Ryu Kyu – Nhận Bản.

            Theo Phan Nguyên Hồng (1991), hệ thực vật có 16 loài cây chủ yếu thuộc 14 họ và 34 loài tham gia RNM thuộc 17 họ. Thảm thực vật chỉ có các quần xã cây thích nghi với độ mặn cao:

1. Quần thể mắm biển (Avicennia marina) phân bố ở trên các bãi cát và bãi đang bồi, đây là quần thể tiên phong trên đất ngập triều trung bình thấp.

2. Quần xã đâng (Rhizophora stylosa) – trang (Kandelia obovata) – sú (Aegiceras corniculatum) sống trên đất ngập triều trung bình. Trong quần xã này sự phân bố ở đường biên dọc sông nước mặn đôi khi xen lẫn ít mắm còn lại. Phía trong là đâng và trang mọc xen kẽ nhau.

3. Quần xã đâng – trang – vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) phân bố trên đất ngập triều trung bình cao, loài ưu thế là đâng

4. Quần xã vẹt dù - đâng, phân bố trên những bãi đất bùn hơi rắn hoặc các bãi có đá, chỉ ngập triều cao. Trong quần xã này vẹt dù là loài ưu thế.

5. Quần thể vẹt dù, phân bố ở trên nền đá xương xẩu, ít khi ngập triều.

6. Quần xã côi (Scyphiphora hydrophyllacea) – giá (Excoecaria agallocha) – cóc vàng (Lumnitzera racemosa) dạng cây bụi trên nền đất bùn hơi cứng, nhiều sỏi hoặc đất thoái hoá, chỉ ngập triều cao.

7. Quần xã tra (Hibiscus tiliaceus) su ổi (Xylocarpus granatum) – hếp (Scaevola taccada) phân bố trên các bờ biển có đất mặn ít khi ngập triều. Trong quần xã này còn có nhiều loài cây chịu mặn khác như đậu tím (Pongamia glabra), cui biển (Heritiera littoralis), vạng hôi (Pandanus tonkinensis), ráng (Acrostichum aureum) và nhiều loài thân cỏ.

Động vật đáy: 71 loài thuộc 28 họ (Nhượng và Khắc 2003; Hồng và cs 2002)

Cá: 194 loài thuộc 70 họ (Tạng 2004)

Chim: 38 loài thuộc 17 họ (Sâm và cs 2005)

1.1.3.2. Vùng ven biển đồng bằng sông Hồng: Trường hợp nghiên cứu huyện Giao Thuỷ, Nam Định

 Thảm thực vật

Qua khảo sát vùng RNM các xã ven biển huyện Giao Thuỷ, Phan Nguyên Hồng và cs (2004) đã thống kê được tổng số 182 loài thuộc 137 chi của 60 họ thực vật có mạch. Lớp Hai lá mầm có số loài, chi và họ  nhiều nhất, 123 loài (chiếm 67,4% tổng số loài) thuộc 47 họ. Ngành Dương xỉ có số loài chiếm tỷ lệ ít nhất, 8 loài (4,3%) thuộc 6 chi của 5 họ. Các loài thuộc lớp Một lá mầm mặc dù chỉ có 51 loài (chiếm  28,3%) thuộc 8 họ (bảng 3) nhưng chúng là những loài có số lượng cá thể lớn trong các bãi cỏ, ngập nước triều định kỳ hoặc triều cao.

Bảng 3. Số lượng các loài thực vật tìm thấy trong vùng RNM ven biển huyện Giao Thủy

 

Taxon

Họ

Chi

Loài

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

PTERIDOPHYTA (DƯƠNG XỈ)

5

8,3

6

4,4

8

4,3

ANGIOSPERMAE (HẠT KÍN)

55

91,7

131

95,6

176

95,7

Dicotyledoneae (Lớp Hai lá mầm)

47

78,3

102

74,5

124

67,4

Monocotyledoneae (Lớp Một lá mầm)

8

13,4

29

21,1

52

28,3

Tổng cộng

60

100

137

100

184

100

 

Trong số loài trên có 12 loài cây ngập mặn chủ yếu (true mangroves), 36 loài tham gia RNM, số còn lại là những loài thực vật nội địa được phát tán vào vùng RNM hoặc sống ở bờ đê, chịu ảnh hưởng của gió mặn.

Có 8 kiều quần xã thực vật trong vùng RNM

Quần xã cỏ cáy (Sporobolus virginicus) – cỏ ngạn (Scirpus kimsonensis) mọc chủ yếu ở cửa Ba Lạt trên các bãi  bùn đang hình thành,  phần lớn thời gian còn ngập nước, khi nổi lên còn chịu nhiều tác động của sóng biển

Ở những khu vực giáp với rừng ngập mặn  hoặc ven bờ xuất hiện một số cây ngập mặn con tái sinh như bần chua, trang. Những khu vực đất cao hơn các loài cây thuộc họ Lúa (Poaceae) như cỏ gà (Cynodon dactylon)và họ Cói (Cyperaceae) như gấu biển (Cyperus stoloniferus)... phát triển.

Quần xã vạng hôi (Clerodendron inerme) – tra (Hibiscus tiliaceus) – giá (Ecoecaria agallocha) mọc trên các vùng đất cao, hay ven bờ đầm, ít khi bị ngập. 

Đây là kiểu nơi sống có quần xã thực vật với thành phần loài thực vật khá đa dạng, với 64 loài (34,8%). Ngoài ba loài ưu thế còn có ráng biển (Acrostichum aureum) phân bố chủ yếu trên các bờ đầm, hay bãi đất cao. Ngoài ra còn có một số loài cây thân cỏ.

Quần xã cà độc dược (Datura metel) – thầu dầu (Ricinus communis) – quả nổ (Ruellia tuberosa) mọc trên vùng đất cao ở mái đê nơi không chịu hay chỉ chịu tác động của triều cường.

Những loài này chịu được muối do gió biển mang đến. Một số loài chịu mặn mọc gần sát chân đê bị ngập triều cao như giá (Excoecaria agallocha), na biển (Annona glabra), từ bi (Vitex trifoliata), sài hồ (Pluchea pteropoda), vạng hôi (Clerodendron inerme).

Quần xã phi lao (Casuarina equisetifolia) – quan âm (Vitex trifoliata)

Khu vực trồng phi lao tập trung ở các cồn cát phía ngoài vùng rừng ngập mặn như cồn Lu, cồn Ngạn (xã Giao Thiện), cồn Nhà (xã Giao Xuân) và một số nơi khác. Cây bụi mọc phổ biến ở đây là vạng hôi (Clerodendrum inerme), chọ (Myoporum bontioides), dừa cạn (Catharanthus roseus). Loài cây chịu hạn tốt như cỏ tranh (Imperata cylindrica), quan âm (Vitex rotundifolia), sa sâm (Launaea sarmentosa) mọc rải rác trên đất cát khô.

Quần xã thực vật này rất dễ bị tác động bởi sóng lớn và con người. Việc nuôi trồng các loài gia súc như dê, bò đã làm cho các cây bụi và cây cỏ thấp và phân cành nhiều.

Quần xã cỏ lông chông (Spinifex littoreus) - muống biển (Ipomoea pes-carpae) sống trên bãi cát kiểu này thường nằm ở phía ngoài các cồn cát trồng phi lao ở Cồn Lu, Cồn Nhà, hay các bãi cát của những cồn mới hình thành, bề ngang quần xã thực vật ở đây hẹp, từ vài mét cho đến vài chục mét.

Quần xã cỏ xoan (Halophila ovalis) – cỏ xoan nhỏ (Halophila minor) – rong xương cá (Myriophyllum dicoccum) ở nước lợ

Sinh cảnh này rất nghèo về thành phần loài (chiếm 3,2% tổng số loài). Chỉ có 6 loài thực  vật thuỷ sinh trong đó:  cỏ xoan (Halophilla ovalis), cỏ xoan nhỏ (Halophilla minor) là hai trong số 15 loài cỏ biển tìm thấy ở Việt Nam (Tiến, 2002). Ngoài ra còn có một số loài rong nước ngọt nhưng chịu được nước chua mặn, phát triển mạnh vào mùa mưa như  rong đuôi chó (Hydrilla  verticillata), thủy kiều biển (Najas marina) và rong xương cá (Myriophyllum dicoccum). Kiểu quần xã thực vật này tương đối hiếm và dễ bị tác động của các hoạt động nuôi trồng thủy sản và đánh bắt trong khu vực ven rừng ngập mặn.

Quần xã cói (Cyperus malaccensis) – sậy (Phragmites karka) trong các đầm nuôi thuỷ sản

Sinh cảnh này có nguồn gốc là rừng ngập mặn, trong đó có 3 loài ưu thế là bần chua (S.caseolaris) và trang (K.obovata) cùng sú (Ae.corniculatum). Sau khi đắp đầm giữ nước triều, hầu hết trang, sú chết, chỉ còn một ít cây lớn có rễ hô hấp cao sống sót. Đất, nước thoái hoá và chua mặn nên cói và sậy có điều kiện phát triển.

Các quần xã rừng ngập mặn

Khác với các quần xã RNM tự nhiên ở Nam Bộ, RNM Giao Thuỷ có nguồn gốc là rừng trang (Kandelia obovata) trồng để bảo vệ đê biển. Sau mỗi lần khai hoang lấn biển đắp đê mới thì dân địa phương lại trồng các dãy rừng trang ở trên đất bãi bồi mới để bảo vệ đê. Ở những nơi bảo vệ tốt rừng trồng như Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ thì sau một số năm đất nâng cao lên, có nhiều loài khác đến định cư như sú (Ae.corniculatum), đâng, vẹt dù, mắm biển. Còn dọc theo bờ sông, các bãi ven cồn, bần chua (S.caseolaris) tái sinh tự nhiên tạo ra kiểu rừng hỗn giao giữa trang trồng và các cây ngập mặn hoang dại.

Ở VQG quan sát thấy hai kiểu quần xã chính:

- Quần xã sú + bần + mắm + ô rô (Aegiceras corniculatum + Sonneratia caseolaris + Avicennia marina + Acanthus ilicifolius) phân bố tại phía bắc vườn, các loài cây này mọc hỗn giao xen kẽ nhau chia thành 3 tầng rõ rệt: tầng vượt tán là các cây bần, mọc rải rác dọc đường biên vươn lên khỏi tán rừng, cao 8-10m, phát tán nhanh có nhiều khả năng chiếm ưu thế trong tương lai của VQG. Tầng cây chính là tầng ưu thế sinh thái gồm 2 loại cây trang (K. obovata) và sú (Ae.corniculatum). Xen giữa 2 loài trên là mắm biển (A.marina) được nước triều phát tán đến nhưng nhờ sức cạnh tranh tốt nên cũng vươn lên tầng tán. Ở những nơi đất cao thì cốc kèn (Derris trifoliata) dựa vào các cây gỗ leo lên đỉnh tầng tán, đôi khi che phủ cả các tán khác.

- Quần xã rừng trồng trang (Kandelia obovata) – sú (Aegiceras corniculatum): sau 14 năm trồng và được bảo vệ, cây có độ cao trung bình 4-5m phân bố ở phía nam VQG Xuân Thuỷ. Rừng có 2 tầng, cây trang trồng (K.obovata) cùng với sú (Aegiceras corniculatum) tái sinh tự nhiên chiếm ưu thế ở tầng trên, tầng dưới là ô rô (Acanthus ilicifolius) và cói (Cyperus malaccensis).

Mặc dù các quần xã thực vật nơi đất bùn ngập triều, tự nhiên đều đặn có thành phần loài không nhiều, chỉ có 20 loài chính chiếm 10,4% tổng số loài nhưng chúng đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ duy trì sự tồn tại và ổn định các quần xã khác như các quần xã  chân đê, ven bờ đầm, hay nơi đất cao, trên các bờ đê, bờ đầm, nơi có số lượng loài chiếm tỷ lệ lớn nhất.

Ở VQG Xuân Thuỷ có một diện tích nhỏ quần xã sú (Ae.corniculatum) – mắm biển (Avicennia marina). Đây là kiểu quần xã ít gặp ở khu vực ven biển đồng bằng sông Hồng vì vậy cần tiến hành bảo vệ kiểu ưu hợp này.

Ngoài ra, trên một số bãi đất cát cồn Lu phía ngoài biển của khu vực xã Giao Xuân xuất hiện một quần thể tương đối thuần loại mọc tự nhiên là mắm biển (Avicennia marina) dạng cây bụi. Mặc dù với diện tích không lớn nhưng chúng là điển hình cho các quần xã tiên phong, trên đất cát ngập triều, cần được bảo vệ và phát triển.

Động vật đáy

Đỗ Văn Nhượng và Hoàng Ngọc Khắc (2004) đã thống kê được 138 loài và phân loài động vật đáy thuộc 4 lớp, 39 họ, 75 giống ở RNM khu vực cửa sông Hồng (bảng 4).

Bảng 4. Số lượng loài của các nhóm động vật đáy ở RNM cửa sông Hồng và một số cửa sông khác

STT

Nhóm động vật đáy

Ba Chẽ

Thái Bình

Sông Hồng

Đồng Nai

1

Giun nhiều tơ

4

6

9

2

2

Tôm (Macrura)

1

10

12

6

3

Cua  (Brachyura)

33

42

61

30

4

Chân bụng (Gastropoda)

10

14

19

10

5

Hai mảnh vỏ (Bivalvia)

22

19

36

9

 

                        Nhận xét:

Các họ có nhiều loài nhất là Ocypodidae tới 27 loài, chiếm 19,56%, họ Grapsidae có 19 loài chiếm 13,77% tổng số loài. Các họ khác có số lượng loài ít hơn, chiếm phần nhỏ số lượng loài trong tổng số.

Mật độ và sinh khối của động vật đáy ở trong RNM đa dạng và phong phú hơn phía ngoài RNM, số cá thể cao nhất đạt đến 76 cá thể, và sinh khối cao nhất là 84,8gam/m2. 

Ưu thế phân bố phía trong RNM là các loài cua họ Grapsidae, và phía ngoài RNM là các loài cua trong họ Ocypodidae.  Vùng ngay cửa sông ít các loài Hai mảnh vỏ, càng xa phía cửa sông số lượng và mật độ nhóm Hai mảnh vỏ càng tăng lên.

Côn trùng

            Nghiên cứu của Lê Xuân Huệ và cộng sự (2004) ở vùng rừng ngập mặn Giao Thuỷ từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2002 cho thấy hệ côn trùng rất đa dạng (113 loài thuộc 50 họ và 10 bộ) (bảng 5).

Bảng 5. Côn trùng thu được ở rừng ven biển Nam định và Thái Bình

STT

Bộ

Số họ

Số loài

Tỷ lệ %

1

Cánh màng (Hymenoptera)

10

23

20,35

2

Bọ ngựa (Mantodea)

1

2

1,77

3

Chuồn chuồn (Odonata)

1

3

2,65

4

Cánh gân (Neuroptera)

1

1

0,88

5

Cánh cứng (Coleoptera)

8

32

28,31

6

Cánh phấn (Lepidoptera)

13

29

25,66

7

Cánh nửa (Heteroptera)

4

5

4,42

8

Cánh giống (Homoptera)

4

5

4,42

9

Hai cánh (Diptera)

5

5

4,42

10

Cánh thẳng (Orthoptera)

2

8

7,08

           

Nhận xét: Côn trùng có vai trò quan trọng trong chu trình tự nhiên ở vùng ven biển. Phần lớn là sâu phá hoại cây ngập mặn, các loại cỏ. Bên cạnh đó, nhiều loài có ích như những côn trùng ký sinh trên cơ thể sâu ăn thực vật, một só loài ăn thịt, săn bắt các loài sâu khác rong đó nhiều loài rầy, sâu cuốn lá và nhóm côn trùng ăn phấn hoa, mật hoa có tác dụng rất lớn trong việc thụ phấn cho cây rừng, cây nông nghiệp và cung cấp mật ong.

                        Khu hệ cá phía bắc huyện Giao Thuỷ khá đa dạng gồm 107 loài  loài thuộc 44 họ và 12 bộ (bảng 6), chủ yếu thuộc các loài cá của các bộ cá điển hình cho vùng cửa sông như Perciformes, Siluriformes, Beloniformes, Mugiliformes... Bộ cá trích tuy chỉ có 2 họ nhưng có tới 12 loài, là những loài có giá trị kinh tế không chỉ đối với địa phương mà còn đối với cả vịnh Bắc Bộ (Cường và Khoa, 2004).

Bảng 6. Số lượng và tỉ lệ (%) của các họ và các loài cá trong các bộ được tìm thấy trong khu vực Ramsar Xuân Thủy, tỉnh Nam Định

STT

Tên các bộ cá

Họ

Loài

Số lượng

%

Số lượng

%

1

Orectolobiformes

1

2,3

1

0,93

2

Clupeiformes

2

4,6

12

11,20

3

Myctophiformes

2

4,6

2

1,90

4

Aguilliformes

1

2,3

2

1,90

5

Siluriformes

5

9,4

9

8,40

6

Beloniformes

3

7,0

5

4,71

7

Gasterosteiformes

1

2,3

1

0,93

8

Mugiliformes

3

7,0

6

5,60

9

Perciformes

21

49,0

60

56,00

10

Scopaeniformes

2

4,6

2

1,90

11

Pleuronectiformes

2

4,6

6

5,60

12

Tetraodontiformes

1

2,3

1

0,93

Tổng

 =SUM(ABOVE) 44

 =SUM(ABOVE) 100

 =SUM(ABOVE) 107

 =SUM(ABOVE) 100

           

Nguồn: Cường và Khoa, 2004.

            Khu hệ cá ở vùng cửa sông ven biển mang những nét đặc trưng của khu hệ các ven biển vịnh Bắc Bộ. Ngoài ra còn găp một số loài cá rạn san ho và cá ở biển khơi vào kiếm ăn trong kênh rạch.

Lưỡng cư và bò sát

Lê Nguyên Ngật và Trần Giang Hoàn (2004) đã điều tra được 37 loài, gồm 13 loài lưỡng cư (chiếm 15,85 % số loài ở Việt Nam), thuộc 8 giống, 4 họ, 1 bộ và 24 loài bò sát (9,30 %), thuộc 17 giống, 8 họ, 2 bộ ở vùng ven biển có RNM Giao Thuỷ (kể cả vùng vùng ven đê biển).

Trong 37 loài trên có 4 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và 6 loài trong Nghị Định 48/NĐ-CP.

Bảng 7. Những loài quý hiếm Lưỡng cư và bò sát

 

STT

Tên loài

Sách Đỏ Việt Nam

Nghị Định 48/NĐ-CP

1

Bungarus fasciatus

T

IIB

2

Bungarus multicinctus

 

IIB

3

Elaphe radiata

 

IB

4

Naja naja

T

IIB

5

Ptyas korros

T

IIB

6

Ptyas mucosus

V

IB

Chim

            Nghiên cứu của Lê Đình Thuỷ (2004) ở Giao Thuỷ, chủ yếu là vùng lõi và vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ cho thấy thành phần loài chim rất đa dạng, trong đó có nhiều loài chim nước và chim di cư (bảng 8).

Bảng 8. Cấu trúc thành phần loài chim ở  VQG Xuân Thuỷ

Bộ

Số Họ

Số loài

Số loài định cư

Số loài di cư

Bộ chim lăn - Podicipediformes

1

1

1

 

Bộ Bồ nông - Pelecaniformes

1

1

 

1

Bộ Hạc - Ciconiformes

1

11

9

2

Bộ Ngỗng - Anseriformes

1

8

 

8

Bộ Cắt – Falconiformes

2

4

4

 

Bộ Sếu – Gruiformes

2

5

5

 

Bộ Rẽ - Charadriiformes

3

30

 

30

Bộ Mòng bể - Lariformes

1

8

 

8

Bộ Bồ câu  - Columbiformes

1

2

2

 

Bộ Cucu – Cuculiformes

1

3

3

 

Bộ Yến – Apodiformes

1

2

 

2

Bộ Sả - Coraciiformes

1

4

4

 

Bộ Gõ kiến Piciformes

1

1

1

 

Bộ Sẻ – Passeriformes

14

56

50

6

Tổng số: 14 bộ

31 họ

136 loài

79 loài

57 loài

 

Các loài chim có giá trị bảo vệ nguồn gen đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2000), Danh lục đỏ của IUCN (2000) và Nghị định 48/2002 được thể hiện trong bảng 9.

Bảng 9. Các loài chim quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ ở VQG Xuân Thuỷ

TT

Tên Việt Nam

Tên Khoa học

IUCN

(2000)

SĐ VN (2000)

NĐ48

(2002)

1

2

3

4

5

6

7

Bồ nông chân xám

Choắt lớn mỏ vàng

Choắt chân vàng lớn

Choắt mỏ thìa

Mòng bể mỏ ngắn

Cò trắng Trung Quốc

Cò mỏ thìa

Pelecanus philippensis

Tringa guttifer

Limnodromus semipalmatus

Eurynorhynchus pygmeus Larus saudersi

Egretta eulophotes

Platalea minor

VU

EN

NT

VU

VU

VU

EN

Bậc R

 

Bậc R

 

Bậc R

 

Bậc R

 

 

 

 

 

 

IB

1.1.3.3. Vùng RNM khu vực miền Trung: Trường hợp nghiên cứu huyện Nga Sơn, Thanh Hoá và huyện Diễn Châu, Nghệ An

Thảm thực vật

Qua khảo sát bước  đầu, Đào Văn Tấn và cộng sự (2005) đã thống kê được: 26 loài thực vật thuộc  22 chi và 15 họ  phân  bố  trong rừng ngập mặn huyện Nga Sơn, trong đó có 8 loài cây ngập mặn chủ yếu (thực sự) và 18 loài là cây tham gia rừng ngập mặn. Thống kê các loài thực vật huyện Diễn Châu, xác định 40 loài thuộc  37 chi trong 23 họ thực vật có mạch trong đó có 9 loài cây ngập mặn chủ yếu (thực sự) và 31 loài là cây tham gia và di cư  vào  rừng ngập mặn.

Có 5 kiểu quần xã điển hình trong vùng rừng ngập mặn huyện Diễn Châu:

- Quần  xã mắm biển (Avicennia marina) - đước vòi (Rhizophora stylosa) và trang (Kandelia obovata): thành phần loài đa dạng nhất, chiều cao cây thấp (102 -192 cm),độ che phủ thấp, tính phân tầng không rõ ràng,  cây  con tái sinh chủ yếu là mắm biển và trang. Kiểu quần xã này  phân bố trong rừng ngập mặn xã Diễn Bích.

-  Các quần thể trang trồng: Quần xã trang trồng lớn hơn 11 tuổi có ở rừng ngập mặn xã Diễn Kim; các quần xã trang trồng 7 tuổi có mặt ở cả 3 xã: Diễn Vạn, Diễn Kim và Diễn Bích. Các kiểu quần thể này tương tự nhau về cấu trúc, tỷ lệ che  phủ khá cao, mật độ cây dày, sự tái sinh của cây con thường kém do thiếu ánh sáng.

- Quần xã  đước vòi trên đất lầy trung bình, ít lầy thụt: thành phần loài bao gồm trang (Kandelia obovata), đâng/đước vòi (Rhizophora stylosa) và vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), sú (Aegiceras corniculatum), ô rô (Acanthus ilicifolius), bần chua (Sonneratia caseolaris), loài ưu thế là đước vòi.

- Quần xã trang - đước vòi: thành phần loài gồm 3 chính trang, đước vòi, ô rô (A.ilicifolius); trang và đước vòi là 2 loài chiếm ưu thế.

- Quần xã đước vòi - vẹt dù: Thành phần loài  (Kandelia obovata), đâng và vẹt dù, rau muối biển (Suaeda maritima), mắm biển (A. marina), cỏ gà (Cynodon dactylon), cỏ mật lông ( Chloris barbata), sam biển (Sesuvium portulacastrum); loài ưu thế là đước vòi  chiếm 83,8% số  lượng cá thể cây gỗ.

Động vật đáy

Theo khảo sát bước đầu của Hoàng Ngọc Khắc (2005) về động vật đáy ở RNM ven biển huyện Nga Sơn, Thanh Hoá và RNM huyện Diễn Châu, Nghệ An cho thấy: thành phần động vật đáy ở RNM huyện Nga Sơn bao gồm 53 loài thuộc 36 giống, 23 họ, 4 lớp. Lớp Giáp xác có số lượng loài nhiều nhất với 29 loài, trong đó họ có nhiều loài nhất là Ocypodidae (8 loài), tiếp đến là họ Grapsidae (7 loài). Lớp Chân bụng với 15 loài, trong đó họ Potamididae có nhiều loài nhất (4 loài). Lớp Hai mảnh vỏ và Giun nhiều tơ có số lượng loài ít nhất. Đặc điểm về thành phần loài động vật đáy trong khu vực RNM huyện Nga Sơn là thiếu một số loài động vật đáy sống ở nền đáy cát, nền đáy cứng; các loài gặp ở đây chủ yếu đều là những loài phân bố rộng; xuất hiện một số loài ưa độ mặn thấp.

Thành phần động vật đáy trong rừng ngập mặn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã xác định được 76 loài thuộc 51 giống, 30 họ, 4 lớp. Lớp Giáp xác có 38 loài, thân mềm chân bụng 18 loài, thân mềm hai mảnh vỏ 16 loài. Trong đó, họ có nhiều loài nhất là họ Cua cát (Ocypodidae) với 13 loài, tiếp đến là họ cua Vuông (Grapsidae) có 9 loài, những họ khác có từ 1-4 loài. Nói chung so với khu vực RNM Nga Sơn (Thanh Hoá) thì thành phần ĐVĐ ở RNM huyện Diễn Châu phong phú hơn, đó là do môi trường sống ở khu vực này đa dạng hơn cả về đặc điểm nền đáy và độ mặn.

Đặc trưng cho khu vực RNM huyện Diễn Châu là trong thành phần loài có cả những loài sống ở vùng nước lợ (Assiminea, Thiara), thể hiện môi trường có độ mặn thấp; Sự xuất hiện các loài ốc mít thuộc giống Cassidula (họ Ellobidae) thể hiện sự ổn định của môi trường trên sàn rừng và đồng nghĩa với sự ổn định của cây rừng.

Cá: 165 loài thuộc 55 họ (Tạng 2004)

Chim: 44 loài thuộc 24 họ (Sâm và cs 2005)

1.1.3.4. Vùng RNM ven biển miền Đông Nam Bộ: Trường hợp nghiên cứu huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh

            RNM Cần Giờ là một hệ sinh thái rừng phục hồi sau chiến tranh hoá học của Mỹ. Từ một loài  cây trồng chủ yếu là đước (Rhizophora apiculata) sau gần 30 năm đã có nhiều loài tái sinh tự nhiên, tạo điều kiện cho nhiều loài động vật đến sinh sống và được bảo vệ tốt nên tính đa dạng sinh học cao.

Hệ thực vật

            Phan Nguyên Hồng (2004) đã thống kê được 72 loài trong đó 30 loài ngập mặn thực sự và 42 loài tham gia RNM. Ngoài thực vật ngập mặn còn phát hiện 95 loài (thuộc 42 họ) thực vật nội địa phát tán nhờ người và động vật. Sự đa dạng loài đã góp phần tạo nên sự phong phú của các quần xã thực vật và nhiều sinh cảnh khác nhau.

            Về cấu trúc quần xã, hiện trạng thảm thực vật ngập mặn Cần Giờ thể hiện sự phong phú hơn so với thời kỳ trước chiến tranh nguyên nhân do nỗ lực trồng xen các loài có giá trị với các loài tái sinh tự nhiên, một số loài còn tái sinh tự nhiên trên các ruộng muối bỏ hoang. Sau đây là một số quần xã chính thích nghi độ mặn cao và nước lợ:

1. Các quần xã trong vùng có nồng độ muối cao:

            - Quần xã tiên phong bần trắng (Sonneratia alba) /mắm trắng (Avicennia alba) trên các vùng đất mới bồi cửa sông ven biển ngập triều định kỳ. Độ mặn nước cao.

            - Quần xã mắm trắng – mắm lưỡi đòng (Avicennia officinalis), mọc phía sau quần xã tiên phong.

            - Quần xã đước (Rhizophora apiculata) và bần trắng hình thành trên các bãi lầy, đã được các quần xã và quần thể tiên phong cố định và nâng cao nền đất. Những loài tham gia quần xã có su ổi (Xyclocarpus granatum), trang (Kandelia candel), cốc kèn (Derris trifoliata).

            - Quần xã su ổi - đước hình thành trên đất ngập triều 2-2,5m. Những loài khác sống ở đây là su sung (X. moluccensis), dà quánh (Ceriops decandra) và mắm lưỡi đòng.

            - Quần xã đước – dà vôi (Ceriops tagal) phân bố trên thể nền hơi chặt và ngập triều trung bình. Trong quần xã này có một số loài khác phân bố rải rác như dà quánh, mắm lưỡi đòng, cóc vàng (Lumnitzera racemosa).

            - Quần xã cóc vàng – giá (Excoecaria agallocha): Cóc vàng sinh trưởng trên đất chỉ ngập triều cao hoặc triều cường. Ở tầng cỏ có sam biển (Sesuvium portulacastrum).

            - Quần xã giá - chà là (Phoenix paludosa) phân bố trên đất cao do rừng thoái hoá. Chà là là loài tái sinh nhanh, sinh trưởng bằng chồi nên lan rộng. Trong quần xã này có một số loài cây gỗ như méc (Styrax agrestis) có nhựa dính, vạng cách (Premma integrifolia), và một số dây leo thuộc họ Thiên lý.

            - Dọc các sông nước lợ ở phía bắc đảo có quần xã bần chua (Sonneratia caseolaris), dừa nước (Nypa fruticans), các loài cây thân cỏ như ô rô (Acanthus ilicifolius), ô rô trắng (A. ebracteatus) và mái dầm (Cryptocoryne ciliata) mọc dày đặc dưới tán bần chua.

Phù du sinh vật

            Phân tích 52 mẫu nước lấy ở các điểm khác nhau theo hướng Bắc Nam và Đông Tây ở Cần Giờ, Việt (1993) đã phát hiện 63 loài thực vật phù du và 22 loài động vật phù du.

Động vật đáy

            RNM phục hồi góp phần cải thiện chất lượng đất do lượng trầm tích thêm vào có nguồn gốc từ lượng rơi rụng và lượng lớn các vật chất xơ sợi mịn từ bộ rễ. Trong bùn chứa hàm lượng lớn các chất hữu cơ cacbon và nitơ (Alongi and Sasekumar, 1992); điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sự phân bố động vật đáy. Mặt khác, động vật đáy cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phân huỷ lượng rơi. Những khảo sát bước đầu đã xác định 118 loài động vật đáy loại lớn (macrobenthos); 32 loài giun nhiều tơ thuộc 18 họ; 17 loài thân mềm thuộc 7 họ; về giáp xác, có hai đại diện là Macrura (28 loài thuộc 7 họ) và Brachyura (25 loài thuộc 4 họ) (Anon, 1998; Hong, 1996; Mien và cs, 1992).

            RNM là nơi kiếm ăn, là môi trường sống vào giai đoạn con non hoặc toàn bộ vòng đời của các loài cá (Aksornkoae, 1993). Trong số 133 loài cá (thuộc 44 họ), phần lớn là các loài thuộc cửa sông thực sự, phần còn lại là các loài rộng muối và rộng nhiệt. Các loài này hầu như đều sống ở vùng nước sâu và thường vào cửa sông kiếm ăn (Hồng, 1996; Lai, 1989; Miên và cộng sự, 1992; Tạng, 1984). Gần đây, số lượng loài cá đối (Mugil affinis) tăng nhanh, đặc biệt ở vùng cửa sông có các loài mắm trắng (Avicennia alba) và mắm đen (A. officinalis); loài cá vược (Lates calcarifer) tập trung nhiều trong các đầm tôm. Loài cá thòi loi (Periophthalmus shlosseri), trước đây rất hiếm thì nay tương đối phong phú, đặc biệt xuất hiện nhiều ở vùng cửa sông nước mặn.

Lưỡng cư và bò sát

            Từ khi xây dựng một số đầm tôm trong vùng RNM, một số loài lưỡng cư, bò sát đã về đây sinh sống, chúng đào hang trong bờ đầm và ra khỏi hang vào ban đêm để săn mồi và kiếm ăn.

            Nghiên cứu bước đầu đã thống kê được 9 loài lưỡng cư thuộc 4 họ (Đạt, 1997; Hồng, 1996). Ễnh ương (Racophorus leucomystax) rất phổ biến, nhái bén (Rana limnocharis) thường bắt gặp ở các ruộng lúa nhưng cũng có ở các vùng nước lợ RNM. Loài cóc (Bufo melanostictus) thường xuất hiện ở các chòi canh nơi có nhiều muỗi.

            Trong số 30 loài bò sát thuộc 14 họ phát hiện ở Cần Giờ, 8 loài thuộc họ Colubridae và 3 loài thuộc họ Cheloniidae; các loài còn lại chỉ phát hiện ở các sông lớn và bờ biển. Năm 1983, một số công nhân lâm trường đã bắn được một con cá sấu nhưng từ đó tới nay không còn bắt gặp thêm một con nào nữa. Chỉ còn 30 con cá sấu (Crocodylus porosus) đang được nuôi trong Lâm Viên Cần Giờ. Từ năm 1990, nhờ hiệu quả của việc trồng lại RNM, nhiều loài chim đã tụ tập về đây, kéo theo sự xuất hiện nhiều loài bò sát ăn trứng chim hoặc chim non (thằn lằn, trăn, rắn).

Chim

            Từ năm 1975 tới 1980, rất hiếm chim xuất hiện ở RNM Cần Giờ, đặc biệt ở các vùng đất cao chỉ ngập triều cường. Cũng không thấy phân chim trên đất hay trên cành cây. Dân địa phương cho biết chỉ thấy vài con bói cá, cò nhỏ (Egretta garzetta) hoặc choi choi nhỏ kiếm ăn trên các bãi bồi xa khu dân cư.

            Từ năm 1980, chim về ngày càng nhiều. Ngoài các loài chim nước còn có nhiều đàn chim di cư từ phương Bắc như choi choi cổ khoang (Charadrius alexandrinus), choi choi vàng xám (Pluvialis squatarola), đặc biệt loài choắt bụng xám (Tringa glareola), choắt chân đỏ (T. erythropus), Himantopus himantopus.

            Một số loài chim nước như cò trắng (Egretta garzetta), cò xanh (Buteroides striatus), và cò ruồi (ubulcus ibis) làm tổ từ tháng 4 tới tháng 3 năm sau trên cành chà là và mắm trắng.

            Dọc các bãi bồi ngập triều định kỳ hai bên sông, rạch có nhiều loài chim cao cẳng/chim lội nước kiếm ăn hoặc dừng chân (Hussain and Acharya, 1994). Khoảng 130 loài chim thuộc 44 họ quan sát được ở Cần Giờ, trong đó 49 loài chim nước, trong 49 loài này có 22 loài chim di cư. Các loài còn lại phổ biển trên toàn vùng đồng bằng và có thể sống ở nhiều môi trường đa dạng (Hồng và cs 1996; Đạt 1997).

Động vật có vú

            Hoàng Đức Đạt (1997) đã thống kê 19 loài động vật có vú thuộc 13 họ cộng thêm 5 loài dơi. Sau khi RNM được phục hồi, trong số các loài động vật có vú trên cạn, loài có số lượng đông đảo nhất là khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis). Số lượng các loài động vật gặm nhấm cũng tăng rất nhanh đặc biệt các loài thuộc họ chuột (Muridae) nguyên nhân do người di cư đến vùng này ngày càng đông. Nhóm trăn gió (Sus scrofa) thường gặp trong các rặng chà là (Phoenix paludosa). Loài mèo bắt cá (Felis viverrina) cũng xuất hiện trong rừng mắm trắng tự nhiên; đây là loài có đặc điểm thích nghi cao với môi trường vùng triều, chúng ăn cá, chim, chuột, sò và các động vật nhỏ khác (Husain and Acharya, 1994).

            Có thể nói, sự phong phú của hệ động vật RNM đã góp phần đáng kể tăng nguồn thực phẩm, tăng sự đa dạng tiểu sinh cảnh.

1.1.3.5. Vùng RNM ven biển miền Tây Nam Bộ: Trường hợp nghiên cứu huyện Ngọc Hiển, Cà Mau

Thành phần loài thực vật rừng ngập mặn

Kết quả điều tra khu vực nghiên cứu đã xác định được thành phần loài thực vật gồm 72 loài hiện có của 40 họ thực vật. 

Nhóm cây ngập mặn chính thức, bao gồm 23 loài thuộc 12 họ thực vật, trong đó có các loài thân gỗ, dạng cây bụi, dạng cỏ... Trong nhóm cây thân gỗ thì họ Đước (Rhizophoraceae) có 6 loài chiếm ưu thế về cá thể và số loài, tiếp đến là họ Bần (Sonneratiaceae) có 3 loài, họ Mắm (Avicenniaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Cau dừa (Palmae) mỗi họ có 2 loài. Trong nhóm cây thân thảo thì họ Ô rô (Acanthaceae) có 2 loài, các họ khác mỗi họ có một loài

Nhóm cây tham gia rừng ngập mặn có 49 loài thuộc 28 họ thực vật, các loài có số lượng cá thể lớn và phân bố rộng trong khu vực nghiên cứu trên vùng đất cao ít khi ngập triều: (Hồng, 1991; Hồng và cs 1999; Thơi 2005)

Trong số 49 loài cây tham gia RNM có 4 loài là dạng dương xỉ, dạng gỗ nhỏ và cây bụi 6 loài, dạng cây gỗ có 9 loài, dạng dây leo có 11 loài, dạng ký sinh có 2 loài và dạng cỏ có 17 loài.  Dạng cỏ và dạng dây leo phân bố chủ yếu ở vùng đệm của Khu bảo tồn, trong khi dạng cây gỗ và cây dạng dương xỉ lại phân bố ở vùng lõi. Trong số 28 họ thực vật nêu trên thì họ Thiên lý (Asclepiadaceae) có số loài đông nhất 5 loài, tiếp theo là họ Cúc (Asteraceae) và họ Lúa (Poaceae) mỗi họ có 4 loài, các họ khác từ 1 đến 3 loài.

Các loại quần xã thực vật rừng ngập mặn

            So với các khu vực khác ở VN thì RNM Cà Mâu đa dạng hơn về các quần xã và sinh cảnh. Dưới đây là các quần xã chính:

Quần thể mắm trắng (Avicennia alba), loài tiên phong tái sinh trên đất mới bồi, phát triển mạnh ở phía tây nam mũi Cà Mâu.

Quần xã mắm trắng – mắm lưỡi đòng (A. officinalis) hình thành phía sau quần thể tiên phong. Đôi khi có thêm loài bần trắng (Sonneratia alba).

Quần xã mắm trắng – mắm lưỡi đòng - đước (Rhizophora apiculata). Nhờ hệ thống rễ thở giữ phù sa và lượng rơi của các loài mắm nên thể nền được nâng lên và giàu chất dinh dưỡng, tạo điều kiện cho trụ mầm của đước định cư và sinh trưởng nhanh, chỉ sau một thời gian đước dần dần chiếm ưu thế ở vùng đất ngập triều trung bình.

Quần xã đước – dà quánh (Ceriops decandra) hình thành ở sau quần xã mắm - đước. Dà quánh là dạng cây nhỏ, cây bụi sống dưới tán đước đôi khi có cả dà vôi (Ceriops tagal).

Quần xã đước – vẹt tách (Bruiguiera parviflora) phân bố dọc theo các sông nhỏ và kênh rạch. Trong quần xã này còn có các loài dà vôi, mắm trắng (ở mép ngoài) và ít cá thể sú (Aegiceras corniculatum).

Quần xã vẹt trụ (B. cylindrica) - đước mọc rải rác ở những nơi gần bờ biển, cửa sông có nồng độ muối cao.

Quần xã mắm biển (Avicennia marina), vẹt tách và đước phân bố ở phía tây nam bán đảo Cà Mâu trên vùng đất nhiều cát. Trong quần xã này còn có giá (Excoecaria agallocha), mắm trắng. Do đất bị xói lở mạnh nên diện tích ngày càng thu hẹp.

Quần xã Chà là (Phoenix paludosa) – giá - xu ổi (Xylocarpus granatum), phân bố trên đất cao ít ngập triều, dọc bờ sông nước mặn. Ở đây còn có loài cóc trắng (Lumnitzera racemosa).

Quần xã dừa nước (Nypa fruticans) – vẹt khang (B. sexangula) – bần chua (Sonneratia caseolaris) trong và ở các vùng nước lợ. Càng đi về phía bắc thì càng nhiều. Dưới tán của các loài trên có ô rô (Acanthus ilicifolius) và mái dầm (Cryptocorine ciliata) độ mặn thấp. Ngoài ra còn có quao nước (Dolichandrone spathacea) mọc rải rác.

Quần thể đước (Rhizophora apiculata) trồng chiếm diện tích lớn nhất, và phân bố rộng đặc biệt là trong các khu vực có mô hình lâm ngư kết hợp. Trong quá trình phát triển một số loài khác tái sinh tự nhiên cũng xâm nhập vào quần thể này.

Động vật đáy

            Theo tài liệu của Đỗ Đình Sâm và cs (2004) hiện biết 102 loài động vật đáy ở vùng RNM Cà Mâu trong đó có 34 loài giun đất, 86 loài giáp xác với 27 loài tôm, 41 loài cua và 1 loài hà sun (Balanus amphritrite), 57 loài thân mềm trong đó có 30 loài ốc và 27 loài hai mảnh vỏ.

            Theo Vũ Trung Tạng (2004), ở vùng RNM ven biển cửa sông Cà Mâu hiện biết 192 loài cá thuộc 67 họ.

            Trong số loài trên một số là các loài cá ở biển Đông, nhiều loài phân bố ở vịnh Thái Lan và một số lượng cá nước ngọt chuyển ra vùng cửa sông trong mùa lũ.

Lưỡng cư

            Do đặc điểm vùng RNM mũi Cà Mâu có độ mặn cao và khu dân cư cùng sống trên nền đất mặn thiếu nước ngọt thường xuyên nên một số loài ếch, nhái và cóc không thích nghi được. So với các vùng ven biển khác thì số loài ít hơn, hiện biết 6 loài thuộc 4 họ.

Bò sát

            Theo Nguyễn Văn Sáng và Nguyễn Thu Cúc (1978) và Đặng Trung Tấn (2003), RNM Cà Mâu hiện biết 20 loài bò sát thuộc 9 họ, trong đó có ……… loài được ghi trong Sách đỏ như trăn gấm (Python reticulatus) (V), trăn đất (P. molurus) (V.R), rắn hổ mang (Naja naja) (T), rắn cạp nong (Bunganus fasciatus) (T), rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah) (E).

 

Chim

            Theo tài liệu điều tra chim ven biển Cà Mâu 1998 – 2002 của Đặng Trung Tấn (2003) thì có 148 loài thuộc 35 họ trong đó có 62 loài chim di cư, và 13 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam như sả hung (Halcyon coromanta) (R), xẻo cá mỏ đỏ (Pelagopsis capensis) (T), nhàn mào (Sterna bergii) (T), choắt mỏ cong lớn (Numenius arquata) (R.VU), quắm đầu đen (Threskiomis melanocephalus) (R), giang sen (Ibis leucocephalus), giang len (Mycteria leucocephalus) (R), khoang cổ (Ciconnia episcopus) (R.VU), cò nhạn (Anastomus ascitans) (R),  cò trắng Trung Quốc (Egretta eulophotes) (VU), cốc đế (Pharacrocorax carbo) (R), bồ nông chân xám (Pelecanus philippensis) (R, VU).

Thú

            Cho đến nay chưa có điều tra sâu về thành phần thú trong RNM Cà Mâu. Theo Võ Lâm Hà (1980) có 17 loài thú. Gần đây có bổ sung thêm một số loài, đưa tổng số loài hiện biết lên 22 loài thuộc 9 họ, trong đó có một số loài được ghi trong Sách Đỏ như rái cá lông mượt (Lutra perpicilata), rái cá (L. lutra), mèo rừng (Felis chaus) (E), mèo bắt cá (F. viveriana) (R), cáo ngựa (F. temrincki) (E).

            Hệ sinh thái RNM chứa đựng mức đa dạng sinh học rất cao, không thua kém mức đa dạng của hệ sinh thái rạn san hô. Dễ dàng nhận biết nơi ở trong RNM phân hoá rất mạnh: trên không, mặt đất, trong nước với các dạng đáy cứng, đày mềm, hang trong đất, trong bụi cây, bộ rễ; điều kiện sống nhất là độ muối lại biến động thường xuyên, phù hợp với hoạt động có nhịp điệu của dòng nước ngọt và thuỷ triều. Sinh vật sống trong RNM không những có số lượng loài đông mà trong nội bộ mỗi loài còn có những biến dị phong phú dễ thích nghi với những nơi ở khác nhau, nguồn sống khác nhau và điều kiện sống đa dạng. Bởi vậy RNM là nơi lưu trữ nguồn gen giàu có và có giá trị không chỉ cho các hệ sinh thái trên cạn mà cho cả vùng biển ven bờ.

            Đánh giá chung: RNM là một hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học rất cao, nhưng cũng rất nhạy cảm. Khi con người tác động làm cho rừng suy thoái thì tài nguyên cũng giảm nhanh và ngược lại khi rừng phục hồi thì tài nguyên sinh học cũng phát triển mạnh.

1.1.4. Xác định các khu RNM ven biển quan trọng cần được ưu tiên

Việc lựa chọn các khu vực RNM để quản lý dựa trên việc xem xét giá trị ĐDSH, đặc điểm kinh tế – xã hội, quản lý RNM, ý nghĩa xuyên quốc gia và khu vực, mức độ đe dọa và sức ép lên RNM. Việt nam đã đề xuất 9 khu vực RNM tiềm năng cho quản lý và bảo vệ trong tương lai.

Bảng 10. 9 khu RNM đề xuất ưu tiên quản lý và bảo vệ trong tương lai

 

Miền

Khu vực RNM ưu tiên

Mục tiêu của hành động

Miền Bắc

1. Khu RNM cửa sông Hồng (Thái Bình và Nam Định): Các VQG, khu BTTN

Quản lý và bảo tồn ĐDSH, nghiên cứu khoa học

2. Khu RNM Quảng Hà - Tiên Yên – Quảng Ninh

Bảo vệ và phục hồi HSTRNM

3. Khu RNM cửa sông Bạch Đằng – Văn Úc

Quản lý và sử dụng hợp lý HSTRNM

Miền Trung

1. Khu RNM Ninh Hòa – Khánh Hòa

Bảo vệ, quản lý HSTRNM

Miền Nam

1. Khu dự trữ sinh quyển RNM Cần Giờ – TP. Hồ Chí Minh

Quản lý, bảo vệ HSTRNM, NCKH,  DLST.

2. RNM Thạnh Phú – Bến Tre

Bảo tồn ĐDSH, sử dụng bền vững HST RNM

3. Lâm ngư trường 184 – Cà Mau

Quản lý và sử dụng bền vững HSTRNM, DLST

4. VQG Đất mũi – Cà Mau

Quản lý, bảo tồn ĐDSH, phòng hộ ven biển, DLST

5. RNM VQG Côn Đảo

Phòng hộ ven biển DLST, NCKH

 

1.1.5. Hiện trạng sử dụng RNM ven biển

            Từ thế kỷ 20, ở Cà Mâu – nơi có diện tích RNM lớn nhất Việt Nam, hầu hết RNM được xếp vào loại rừng sản xuất và khai thác luân kỳ (25-30 năm). Sản phẩm chính là gỗ xây dựng, than đước, vẹt, ta nanh và củi. Ngành Lâm nghiệp đã thành lập một số lâm trường, vừa khai thác vừa trồng rừng. Khi phong trào nuôi tôm xuất khẩu nở rộ thì diện tích nuôi tôm trong các lâm trường mở rộng và các lâm trường cũng đổi tên thành các lâm ngư trường vừa khai thác vừa trồng rừng và quản lý các đầm tôm của các hộ dân và cơ quan trong khu vực RNM, theo tiêu chí của Bộ Thuỷ sản là 30% tôm, 70% rừng.

            Nhưng thực tế do nguồn lợi từ tôm rất lớn nên rất ít nơi giữ được tỷ lệ này, diện tích nuôi tôm ngày càng mở rộng. Hầu hết các hộ dân sống trong vùng RNM là hộ nghèo nên họ đã phá một số RNM để sản xuất lúa và khai thác lâm sản bất hợp pháp bằng cách xây dựng hàng ngàn lò than gia đình. Tình trạng này đã khiến cho tài nguyên rừng kiệt quệ, diện tích thu hẹp rất nhanh chóng.

            Dựa vào ảnh vệ tinh Spot và cơ sở GIS, Nguyễn Tác An và Phan Minh Thu (2005) đã tính diện tích RNM ở Cà Mâu và Trà Vinh vào thời điểm 1965 và 2001 như sau:

Bảng 11. Diện tích RNM và các đầm tôm ở Cà Mâu và Trà Vinh qua các thời điểm

 

 

Năm

Diện tích rừng (ha)

Diện tích nuôi tôm nước lợ (ha)

Cà Mâu

1965

90.346

Chưa nuôi

2001

38.303

202.000

Trà Vinh

1965

21.221

Chưa nuôi

2001

12.797

21.510

Hình 4. Hiện trạng rừng ngập mặn ở huyện Ngọc Hiển - tỉnh Cà Mau năm 1965 (A), và 2001 (C)

            Trong thời gian gầy đây, diện tích RNM ở Cà Mâu và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có tăng lên do trồng cây theo mô hình lâm ngư kết hợp và trồng rừng phòng hộ do WB tài trợ (3.698ha) từ 2000-2005 nhưng chất lượng chưa cao.

            Ở ven biển miền Trung, trong những năm 1960 có 20.000ha RNM nhưng do phá rừng để nuôi tôm nên nhiều nơi RNM hầu như đã biến mất trên bản đồ như bán đảo Cam Ranh, nhiều xã Ninh Hoà (Khánh Hoà), Bình Định.

            Ở các tỉnh miền Bắc Trung Bộ cũng có tình trạng phá RNM để trồng cói xuất khẩu sau đó chuyển sang nuôi tôm nên diện tích RNM thu hẹp nhanh. Từ 1997 đến nay nhờ sự hỗ trợ của một số NGO như Quỹ Cứu trợ Nhi đồng Anh (SCF UK), OXFAM UK&I, Hội chữ thập đỏ Nhật Bản (JRC) nên đã trồng được 24201 ha tạo thành những dải rừng phòng hộ ven biển.

            Ở ven biển đồng bằng Bắc Bộ cũng có những dải RNM trồng từ những nằm đầu thế kỷ 20, nhưng vào cuối thế kỷ này hầu hết RNM bị phá để trồng cói xuất khẩu rồi chuyển sang nuôi tôm. Từ 1994 đến nay nhờ sự hỗ trợ của Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch (DRC) và JRC nên một diện tích khá lớn RNM phục hồi và trồng thêm (xem bảng 16).

            Khu Đông Bắc (Quảng Ninh) vào những năm 60 của thế kỷ 20 có khoảng 20.000 ha RNM (Rollet 1975). Do quan niệm của lãnh đạo địa phương cho các dải RNM dạng bụi thấp không phải là rừng mà là đất hoang, nên tình trạng phá RNM bừa bãi để lấy đất sản xuất nông nghiệp, làm ruộng muối và đặc biệt là làm đầm tôm đã làm suy thoái và thu hẹp mạnh diện tích. Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Ninh 2001 thì ở 9 huyện ven biển và hải đảo, từ 1998 đến 2003 đã có 2.375ha chuyển sang nuôi tôm và 134 ha ở thành phố Hạ Long dành cho xây dựng (bảng 12).

Bảng 12. Diện tích  rừng ngập mặn chuyển đổi mục đích sử dụng

 

TT

Tên huyện

Tổng diện tích chuyển đổi (ha)

Nuôi thuỷ sản

Mục đích khác

Các xã có diện tích

1

Móng Cái

1040

1040

 

Hải Hoà

2

Đầm Hà

30

30

 

Tân Bình

3

Hải Hà

159

159

 

Quảng Thắng, Quảng Phong, Quảng Quảng Minh, Đường Hoa

4

Tiên Yên

402

402

 

Đồng Rui

5

Hạ Long

295

161

134

Bãi Cháy, Cao Xanh, Hà Khẩu, Đại Yên, Giếng Đáy, Thống Nhất

6

Hoành Bồ

212

212

 

Lê Lợi

7

Yên Hưng

236

236

 

Hoàng Tân, Hà An, Minh Thành

8

Cẩm Phả

133

133

 

Cẩm Hải, Cửa Ông, Mông Dương

9

Vân Đồn

2

2

 

 

Tổng

2509

2375

134

 

           

Nguồn: Sở Nông Nghiệp & PTNT Quảng Ninh, 2004

            Cho đến nay hầu hết diện tích RNM ở các địa phương đều do ngành nông nghiệp huyện, một số lâm ngư trường quản lý, trừ các khu bảo tồn thiên nhiên và 2 vườn quốc gia Xuân Thuỷ (Nam Định), Đất Mũi (Cà Mâu) và Khu Sự trữ Sinh Quyển RNM Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh) do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý.

            Việc giao đất giao rừng cho cộng đồng còn rất ít, chỉ có một phần diện tích Khu Sinh quyển Cần Giờ, RNM Cà Mâu, Khu bảo tồn thiên nhiên Thạnh Phú (Bến Tre) có giao rừng cho một số hộ dân địa phương bảo vệ.

1.2. Vai trò của rừng ngập mặn đối với bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế

            Khi đề cập đến lợi ích của rừng, thường người ta chỉ tính đến những sản phẩm trực tiếp như gỗ và các lâm sản khác mà ít chú ý đến các tác dụng gián tiếp như điều hòa khí hậu, chống xói mòn, hạn chế lũ lụt... Đối với RNM vùng cửa sông, nơi bị tác động của sóng, gió, những tác dụng gián tiếp này có ý nghĩa quan trọng.

1.2.1. Sản phẩm lâm nghiệp

            Công dụng của các loài thực vật rất đa dạng. Tỷ lệ các loài được sử dụng so với tổng số loài rất lớn. Đã từ lâu các loài thực vật này cung cấp cho các vùng ven biển những nhu cầu cấp thiết hàng ngày như gỗ xây dựng, lá lợp nhà, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, chất đốt, thức ăn gia súc...

            Ở Việt Nam, trong các loài CNM đã được thống kê có một số loài có thể xếp vào các nhóm công dụng chủ yếu sau (Hồng và Sản, 1984, 1993) (hình 4).

                        - 30 loài cây cho gỗ, than, củi

            - 14 loài cây cho tanin

            - 24 loài cây làm phân xanh, cải tạo đất hoặc giữ đất

            - 21 loài cây dùng làm thuốc

            - 9 loài cây chủ thả cánh kiến đỏ

            - 21 loài cây cho mật nuôi ong

            - 1 loài cho nhựa để sản xuất nước giải khát, đường, cồn.

            Ngoài ra còn một số loài cây sử dụng cho công nghiệp như lie làm nút chai, cốt mũ, cho sợi. Cũng còn một số công dụng chưa được chú ý như làm giấy, ván ép... Trong tương lai chúng ta cần tổ chức chế biến, sử dụng.

            Trong số những loài cây cho gỗ, thường người ta chỉ tính đến 5 - 6 loài phổ biến và cho trữ lượng lớn như các chi đước, mắm, vẹt, cóc. Nhưng cũng tùy từng vùng, tùy điều kiện sinh thái và kích thước của cây khác nhau nên sử dụng khác nhau. Nhiều loài gỗ tạp cho vỏ bào để làm ván ép, làm bột giấy.

            Ở Ngọc Hiển (Cà Mâu), đước là nguồn gỗ có giá trị. Trữ lượng trong các rừng đước tự nhiên của Ngọc Hiển, ở tuổi 30 là 210 m3/ha; có những khu vực đạt tới 450 - 600 m3/ha (Phân viện ĐTQHR, 1985).

            Nếu chúng ta biết tổ chức kinh doanh hợp lý thì RNM sẽ cung cấp một lượng gỗ rất quan trọng.

            Các loại gỗ của RNM thích hợp với nhiều công dụng: phần lớn được dùng làm cột kèo, xẻ ván làm sàn nhà, đóng các đồ dùng thông thường của địa phương. Ở nhiều nước cũng dùng gỗ làm tà vẹt, chống lò.

                        Than đước, vẹt được ưa chuộng, phần lớn than đều ít khói, nhiệt lượng cao: 1kg than đước cho 6.675 Kcal và than vẹt là 6.375 Kcal. Than đước còn được dùng trong kỹ nghệ luyện kim. Loại than cóc vàng được dùng để chạy máy tầu trong đại chiến thế giới thứ II.

 

            Ngoài những cây chủ yếu cung cấp gỗ, than, củi, tanin, còn phải kể đến dừa nước. Dừa nước phân bố tự nhiên ở các vùng cửa sông và dọc sông nước lợ, có chỗ cách biển đến 60km (sông Tiền, sông Hậu). Trồng dừa nước không khó khăn và không ảnh hưởng đến đất nông nghiệp. Từ bao đời nay, nhân dân vùng ven biển, cửa sông đã biết dùng lá dừa nước để lợp nhà, làm vách, các dụng cụ trong gia đình như chổi, gầu múc nước, giỏ túi xách, mũ, nón, gói bánh. Lá non dùng gói bánh dừa, ăn thơm ngon. Cuống lá dùng làm phao lưới đánh cá, lớp vỏ ngoài của cuống làm vật cách điện có chất lượng tốt. Sợi xơ đập từ cuống bẹ lá, xe lại làm dây thừng, dây chão bền, chịu được nước mặn. Nhân dân huyện Bình Đại (Bến Tre) có kinh nghiệm rất hay là dùng bẹ lá dừa nước già đóng xít nhau làm đáy cống các đầm tôm thay gỗ, ván, sau 5 - 6 năm mới hỏng. Cùi non trong quả dừa nước có vị hơi ngọt và béo để ăn tươi, nấu chè, làm xirô, kem. Sọ dừa già làm cúc áo, đồ mĩ nghệ. Gần đây Phân viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Nam Bộ đã thực nghiệm thành công ván ép từ bẹ lá dừa nước.

            Tỷ lệ đường trong nhựa cuống buồng quả dừa nước khá cao: 13 -17%. Trong điều kiện trồng đúng qui cách, đất tốt ở Malaysia đã thu hoạch 20,3 tấn đường/ha/năm, còn trồng đại trà năng suất bình quân 5-7 tấn/ha/năm mà chỉ cần sử dụng 5-6 công lao động cho mỗi hecta.

            Sản xuất đường từ dừa nước đơn giản hơn và có những mặt thuận lợi hơn so với qui trình sản xuất đường mía. Đất trồng mía ở vùng ven biển phải cần bừa kỹ, nhiều nơi phải lên luống, hàng năm phải trồng lại, phải có máy ép mía và xử lý bã. Dừa nước chỉ trồng một lần, từ năm thứ 5 trở đi thì thu hoạch liện tục, dụng cụ thu hoạch nhựa đơn giản, chỉ cần ống tre để hứng nhựa sau đó cô thành đường hoặc làm các thực phẩm khác (Ba, 1997).

            Ngoài các giá trị kinh tế kể trên, dừa nước còn có tác dụng rất lớn trong việc giữ đất bồi, bảo vệ bờ sông, kênh rạch, chống xói lở do tác dụng của thủy triều hoặc sóng. Ở trong các bờ đầm nuôi tôm nước lợ, trồng dừa nước dọc theo mương vừa có tác dụng giữ đất, vừa che bóng cho đầm, giữ nước mát, làm chỗ trú cho tôm lúc nắng nóng.

            Thực vật làm dược liệu:  Nhân dân Việt Nam và các nước có RNM từ lâu đã sử dụng CNM làm thuốc nam chữa các bệnh thông thường, đặc biệt là trong hai cuộc chiến tranh Đông Dương. Là vùng căn cứ địa kháng chiến, bị địch bao vây, điều kiện khí hậu ẩm thấp, vệ sinh kém nên có nhiều bệnh tật nhưng nhờ sử dụng thuốc từ các cây trong vùng RNM nên đã phát hiện ra nhiều loài cây chữa bệnh có giá trị. Chúng tôi đã sưu tầm tác dụng chữa bệnh của CNM trong các tài liệu và từ kinh nghiệm của nhân dân địa phương và trình bày tóm tắt trong bảng 13.

Bảng 13. Các loài cây ngập mặn làm dược liệu

 

Tên khoa học

Tên địa phương

Công dụng

Bộ phận sử dụng

Rhizophora apiculata

đước

tanin dùng để chữa bỏng và vết thương phần mềm (B & VTPM)

vỏ,thân,cành

R. mucronata

đưng, đước bộp

B&VTPM & sốt rét thay ký ninh

nt

R. stylosa

đâng, đước vòi

B&VTPM

nt

Ceriops tagal

dà vôi

nt

nt

C. decandra

dà quánh

nt

nt

Bruguiera sexangula

vẹt tách

nt

nt

B. parviflora

vẹt khang

B&VTPM, thấp khớp, thần kinh

nt

B. gymnorrhiza

vẹt dù

chữa bỏng, mụn nhọt

nt

A. canthus ilicifolius

ô rô biển

bệnh vàng da

nt

A. ebracteatus

ô rô biển ít gai

hạ sốt

Acrostichum aureum

ráng

sưng hạch ở bẹn

thân rễ

Clerodendron inerme

vạng hôi, ngọc nữ

chạc vọng

ỉa chảy, kiết lỵ

Heritiera littoralis

cui biển

hạ sốt, toát mồ hôi, lợi tiểu, nhuận tràng

Hibiscus tiliaceus

tra

lợi tiểu, nhuận tràng, đau dạ dày, trĩ, nhiễm trùng ngoài da

 

Ipomoea-pes-caprae

muống biển

giảm sốt, đau đầu

hạt (sắc lên)

Pluchea pteropoda

sài hỗ nam

giải cảm

rễ

P. indica

cúc tần

đau dạ dày

cả cây lá (xông)

Thespesia populnea

tra biển

 

Xylocarpus granatum

X. moluccensis

 

Wedelia biflora

xu

xu ổi

 

cúc nụ áo

hạ sốt, chữa lỵ, chữa bỏng, vết thương phần mềm chỗ bị đứt chảy máu, vết thương ngoài da, cảm, đau đầu

vỏ, tanin

nt

lá (xông)

Nguồn: Chapman 1975, Dagar và cs 1991, Hồng và Sản 1993, Côi 1995, Hồng 1996.

1.2.2. Vai trò đối với tài nguyên thiên nhiên

          Bản thân cây rừng ngập mặn (RNM) đã là một trong các dạng tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo, song kéo theo nó là sự quần tụ của bao loài sinh vật khác, từ những loài động vật không xương sống kích thước nhỏ đến những loài động vật có xương sống kích thước lớn, từ những loài sống trong nước biển đến những sinh vật sống trên cạn. Điều đó nói lên rằng, RNM không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung cấp nguồn dinh dưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần thể sinh vật cửa sông ven biển đồng thời còn là nơi “ương ấp” những cơ thể non của nhiều loài sinh vật biển, nơi duy trì đa dạng sinh học cho biển (Mohamed & Rao, 1971; Frusher, 1983).

Duy trì nguồn dinh dưỡng giàu có đảm bảo cho sự phát triển của các loài sinh vật ngay trong RNM

Text Box: Hình 6. Lượng rơi rụng rừng ngập mặn
(Ảnh: Phan Nguyên Hồng)
            RNM không chỉ tạo nên năng suất sơ cấp cao dưới dạng cây rừng mà hàng năm còn cung cấp một sản lượng rơi rụng khá lớn để làm giàu cho đất rừng và vùng cửa sông ven biển kế cận. Ngoài các chất thải bã, xác chết của các loài động vật, lượng rơi rụng của bản thân cây rừng được đánh giá vào khoảng 8 – 20 tấn/ha, trong đó 79,7% là lá (Hồng và cs, 1988). Những sản phẩm này một phần có thể được sử dụng trực tiếp bởi số ít loài động vật, một phần nhỏ nằm dưới dạng chất hữu cơ hoà tan (DOM) cung cấp cho một số loài dinh dưỡng bằng con đường thẩm thấu. Phần chủ yếu còn lại chuyển thành nguồn thức ăn phế liệu hay cặn vẩn (detrit) nuôi sống hàng loạt động vật ăn mùn bã thực vật vốn rất đa dạng và phát triển phong phú trong RNM.

            Con đường hình thành và bảo tồn các dạng thức ăn trong RNM được mô tả sau đây:

            + Thức ăn dưới dạng các chất hữu cơ hoà tan: dạng này được hình thành từ lá cây rừng, từ các loài tảo nổi (phytoplankton) và xác chết, phân và nước tiểu của các loài động vật.

            + Xác chết và các chất bài tiết của động vật thải xuống nước bị sinh vật phân huỷ đã cung cấp một lượng chất hữu cơ hòa tan quan trọng. Thực vật nổi, trong quá trình trao đổi chất và khi chết cũng đóng góp một lượng chất hữu cơ hoà tan, đôi khi đến 40% sản phẩm quang hợp do chúng tạo ra.

+ Đối với lá cây RNM, ngay lập tức khi mô thực vật chết và rơi xuống nước thì các dạng tinh bột, đường đơn và nhiều axit hữu cơ giải phóng vào nước.

            Cả ba cách trên tạo ra nguồn thức ăn hữu cơ hòa tan có giá trị đối với hàng loạt các vi sinh vật và động vật nguyên sinh, khởi đầu cho xích thức ăn thẩm thấu. Số kịp bị khoáng hoá lại cung cấp nguồn muối vô cơ cho sự phát triển của thực vật phù du và những loài thực vật khác.

Duy trì nguồn lợi thuỷ sản tiềm tàng cho sự phát triển một nghề cá bền vững của đới ven bờ

            Qua các xích thức ăn, ta thấy mỗi bậc dinh dưỡng là một điểm dừng của vật chất mà ở đó hình thành nên một sản lượng sinh học để mức dinh dưỡng cao hơn có thể thu hái. Ở xích thức ăn đầu tiên, khởi đầu bằng thực vật tuy không đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái RNM song lại có ý nghĩa khác, làm cho hệ trở nên đa dạng trong cấu trúc, bền vững trong sự phát triển, tiến hoá của mình. Thức ăn thực vật cũng lôi cuốn bao “khách vãng lai”, nhất là các loài cá trích, cá trổng thuộc giống Stoleporus, cá lành canh (Coilia sp.), cá gà, cá lẹp (Thrissa sp.)... Khi triều cạn, về phần mình, chúng lại cung cấp thức ăn cho các loài chim nước, đồng thời là kẻ vận chuyển thức ăn từ RNM cho các bậc dinh dưỡng cao hơn ở biển xa bờ. Đây cũng là đối tượng đánh bắt bằng đăng, đáy, lưới… trên các rạch triều hay ven RNM.

            Trong xích thức ăn phế liệu xuất hiệu rất nhiều đối tượng có giá trị kinh tế quan trọng. Những loài ăn phế liệu gồm giun nhiều tơ, các loài thân mềm ăn lọc như ngao, sò, vọp, các loài ốc. Đa dạng về loài và đông về số lượng thuộc về giáp xác, đặc biệt là các loài thuộc họ Tôm he như tôm sú, tôm he mùa, tôm rảo, tôm bộp, tôm sắt… Chúng là cư dân trong vùng cửa sông nhiệt đới mà đời sống rất gắn bó với môi trường RNM, như cách nói của người dân “Con tôm ôm cây đước”. Tôm là loài ăn tạp, trong thành phần thức ăn, các mảnh vụn hữu cơ của cây ngập mặn chiếm một lượng đáng kể, đồng thời về phía mình, chúng lại là nguồn thức ăn rất có giá trị cho các động vật ăn thịt ở bậc dinh dưỡng cao hơn. Tuy nhiên, nghề giã tôm thương phẩm không xảy ra trong RNM mà chủ yếu tập trung tại vùng nước biển ven bờ với độ sâu 15 – 50m, nơi có quan hệ chặt chẽ với RNM cửa sông. Những ngư trường tôm lớn của nước ta hiện nay nằm trước cửa hệ thống sông Hồng (Cát Bà - Bà Lạt), trước cửa hệ thống sông Cửu Long, bờ đông và bờ tây của bán đảo Cà Mâu. RNM duy trì sản lượng lâu dài cho các bãi tôm trên cơ sở cung cấp một phần nguồn chất dinh dưỡng cho mình, song quan trọng hơn RNM là nơi ương nuôi, nơi sống bắt buộc cho các giai đoạn phát triển sớm của đời sống các loài tôm và cua. Các nghiên cứu của Robertson (1988) chỉ ra rằng, mối quan hệ chung giữa kích thước vùng nuôi dưỡng và hiệu quả khai thác tôm rất mật thiết. RNM là yếu tố điều chỉnh mức sống của tôm con, do đó, xác định luôn kích thước của quần thể con cái và quần thể sinh sản.

            Sau tôm, cua cũng đóng vai trò quan trọng. Chúng cũng có chu kỳ sống như tôm mà các giai đoạn chính đều có liên quan đến RNM, chỉ khi đẻ mới bơi ra biển (Tạng 1994). Chúng trực tiếp tạo nên nguồn lợi khai thác ngay trong RNM và cửa sông. Nhiều loài cá có giá trị cao lại cũng có giai đoạn con non sống, kiếm ăn ở vùng RNM như cá hồng (Lutianus), cá mú (Epinephelus), cá lượng (Nemipterus) v. v. Chúng tham gia vào nhiều bậc dinh dưỡng trong vùng, đồng thời cũng tham gia chính trong cơ cấu đàn cá khai thác ở vùng cửa sông ven biển (Tạng, 1994).

            Mối liên hệ giữa RNM và ven biển ven bờ còn thể hiện ở sự trao đổi các dạng sống, ở tập tính sinh thái của các nhóm động vật giữa hai môi trường như phần trên đã đề cập đến (trưởng thành di cư ra biển, con non lại xâm nhập RNM, RNM là nơi kiếm ăn, còn ở biển là bãi đẻ…).

            Sự xuất khẩu vật chất của 2 môi trường RNM và biển cũng thể hiện mối phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng rất chặt, trong đó RNM đóng vai trò quan trọng trong sự xuất khẩu nguồn chất dinh dưỡng cho biển. Nguồn sống này cùng với việc nuôi dưỡng các ấu thể của các đàn động vật biển đã giúp cho RNM thực hiện chức năng có một không hai của mình là duy trì đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật tiềm tàng cho biển, nói cách khác, đời sống và nguồn lợi biển phụ thuộc vào số phận và sự phát triển của RNM, cũng như vào những hệ sinh thái khác của vùng cửa sông ven biển.

RNM là nơi nuôi dưỡng các nguồn lợi hải sản và hỗ trợ nghề cá

Nhờ khối lượng lớn mùn bã từ các cây ngập mặn được phân huỷ tại chỗ RNM thu nhận các loại chất dinh dưỡng từ nội địa do sông chuyển ra và từ biển khơi vào do thuỷ triều nên tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái RNM rất cao, trong đó có nhiều loài hải sản quan trọng.

Sau khi trồng RNM, thỉnh thoảng ngư dân ở Thái Bình và Nam Định đã đánh bắt được loại cá thủ vàng (Sciaena sp.) – một loài cá đáy vào vùng cửa sông có RNM kiếm mồi, đây là loài cá quí, hiếm, có giá trị kinh tế cao vì bong bóng của nó để chế chỉ khâu tự tiêu ít gây nhiễm trùng. Tuỳ theo trọng lượng mà ở Hồng Kông người ta mua với giá 10.000 USD – 25.000 USD/bong bóng.

            Theo Ronnback (1999), mỗi năm 1ha RNM có thể tạo ra 13-756kg tôm thuộc họ Tôm he có giá trị 91-5.292 đô la Mỹ (USD), 13-64kg cua bể với số tiền tương ứng là 39-352 USD, 257-900kg cá qui ra tiền là 475-713 USD, 500-979kg ốc, sò với giá trị tương ứng là 140-274 USD.

            Theo Talbot và Wilkenson (2001) với 40.000ha RNM được quản lý tốt ở phía tây Malaysia đã hỗ trợ cho ngành thuỷ sản 100 triệu USD, mỗi hecta thu 2.500 USD/năm. Cứ 1km  dải RNM là đường viền bờ biển ở vịnh Panama cũng thu hoạch được 85.000 USD từ đánh bắt tôm, cá và các giáp xác khác. Còn ở Thái Lan, mỗi năm 1ha RNM cho thu hoạch 1000 USD từ nghề cá và sản phẩm của rừng (Midas, 1995).

Ngoài ra, RNM còn đóng góp cho sự phát triển và phong phú nguồn lợi cá ở các rạn san hô gần đó như cá mú – một loài đang bị đánh bắt ráo riết. Theo Nguyễn Giang Thu (2004) thì một nghiên cứu mới được công bố trên Tạp chí Nature (tháng 2/2004) cho thấy các rạn san hô gần RNM phát triển tốt, nguồn lợi cá gấp đôi những khu vực rạn san hô không ở gần RNM.

Điều mà không ai phủ nhận được là RNM đã bảo vệ rất có hiệu quả các đầm nuôi tôm, cua. Có thể lấy 1 ví dụ: Tháng 8 năm 1996, khi cơn bão số 2 đổ bộ vào Thái Bình, các đầm tôm, đầm cua của Thuỵ Hải, Thuỵ Xuân và Thuỵ Trường được bảo vệ tốt nhờ có RNM, trong lúc hầu hết các đầm ở Nam Phú, Nam Thịnh, Nam Hưng thuộc huyện Tiền Hải đều bị sạt lở bờ, có một số đầm vỡ bờ và người nuôi tôm mất hết vốn do RNM bị phá.

Những hộ nuôi cua ở ven biển Bắc Bộ đều có một nhận định chung là từ khi RNM trồng, nguồn cua giống vào nhiều nên rất thuận lợi cho việc thả cua và giá hạ chỉ còn bằng 1/2-1/3  so với giá mua trước đó.

Đối với các đầm nuôi bán thâm canh và thâm canh, tuy sử dụng con giống nhân tạo nhưng nguồn tôm, bố mẹ đều có quan hệ mật thiết với RNM. Trong vòng đời của tôm sú, tôm he có một giai đoạn dài từ hậu ấu trùng đến cơ thể trưởng thành sống trong các kênh rạch có RNM sau đó mới ra biển để đẻ. Do đó mất RNM thì nguồn tôm bố mẹ cũng không còn.

1.2.3. Tác dụng phân huỷ chất thải

Nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước (Odum 1971; Pitodo 1998; Primavera 2004; Hà và cs 2002; Hằng 2002, Trang và Hằng 2002) cho thấy RNM là nơi lưu giữ và phân huỷ các chất thải từ nội địa chuyển ra. Nhờ các vi sinh vật mà các chất này trở thành chất dinh dưỡng cho nhiều sinh vật khác và môi trường được trong sạch.

            VSV trong đất và RNM bao gồm vi khuẩn, nấm sợi, nấm men và xạ khuẩn đều có khả năng phân huỷ các hợp chất ở lớp đất mặt như tinh bột, xenlulôzơ, pectin, gelatin, casein, kitin có trong xác động vật và thực vật và một số hợp chất phức tạp hơn như cacboxin methyl xenlulôzơ (CMC), các chất lighnoxenlulôzơ ở các mức độ khác nhau và khoáng hoá nhanh các chất này nhờ khả năng sinh các enzym ngoại bào mạnh như xenlulaza, amylaza, proteinaza, kitinaza.

            Một số nấm sợi phân giải được các hợp chất phốt pho khó tan. Chúng phân huỷ các mùn bã cây ngập mặn tại chỗ, cung cấp nguồn thức ăn cho khu hệ động thực vật RNM rất phong phú ở các kênh rạch và vùng biển nông.

            Bên cạnh đó, những chất thải rắn trong sinh hoạt, y tế, công nghiệp, nông nghiệp cùng với các hoá chất dư thừa từ nội địa theo sông ra RNM được giữ lại và nhờ VSV phân huỷ, biến chúng thành thức ăn cho hệ sinh vật ở đây và làm trong sạch nước biển. Người ta đã ví RNM là quả thận khổng lồ lọc các chất thải cho môi trường vùng ven biển.

Khả năng sinh kháng sinh của nhiều loài vi khuẩn, nấm men, đặc biệt là nấm sợi có hoạt tính kháng sinh mạnh thuộc các chi Trichoderma, Penicillium, Cephloporium, Paecilomyces. Các VSV sinh kháng sinh này còn có tác dụng ức chế các VSV gây bệnh cho động, thực vật, làm sạch môi trường bị ô nhiễm ven biển.

Trong đất RNM có vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) tạo ra protein tinh thể độc có khả năng tiêu trừ đặc hiệu một số loài côn trùng gây hại cho người và động thực vật như các loài sâu róm, sâu tơ, bọ nẹt, ấu trùng muỗi… Độc lực của Bt RNM với ấu trùng muỗi rất cao. Mai Thị Hằng và Trần Thị Mỹ Hạnh (2004) đã phát hiện 6 chủng có khả năng diệt ấu trùng các loại muỗi thí nghiệm từ 60-100% sau 36 giờ; có chủng diệt được 100% ấu trùng muỗi sốt rét Anopheles minimus, muỗi gây sốt xuất huyết Aedes aegyptiCulex quinquefasciatus. Có thể nói RNM là nơi ẩn dấu nguồn gen quí Bt, có thể ứng dụng tiêu trừ các vectơ truyền bệnh nguy hiểm đối với người dân vùng ven biển.

Các nghiên cứu VSV trong RNM vùng ven biển đồng bằng sông Hồng cho thấy có tới 83/199 chủng nấm sợi có khả năng phân giải dầu mỏ ở các mức độ khác nhau  như các loài nấm sợi thuộc một số chi Penicillium, Aspergillus, Cladosporium, Paecilomyces, Canninghamela (Trang và cs, 2003) làm cho môi trường nước biển trong sạch, tạo điều kiện thuận lợi cho các tảo phù du quang hợp, cung cấp O2 cho nhiều loài hải sản. Sự phát triển của chúng cũng làm tăng nguồn thức ăn cho các động vật ở vùng biển.

1.2.4. Điều hoà khí hậu, mở rộng diện tích đất bồi, hạn chế xói lở, xâm nhập mặn và tác hại của gió bão

1.2.3.1. Khí hậu

Text Box: Hình 7. RNM phục hồi ở Cần Giờ 
(Nguồn: Ban Quản lý RNM Cần Giờ)
            RNM có tác động điều hòa khí hậu trong vùng. Blasco (1975) nghiên cứu khí hậu và vi khí hậu rừng, đã có nhận xét: các quần xã RNM là một tác nhân làm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt. Trên thế giới có rất nhiều ví dụ điển hình về việc mất RNM kéo theo sự thay đổi vi khí hậu của khu vực... Sau khi thảm thực vật không còn thì cường độ bốc hơi nước tăng làm cho độ mặn của nước và đất tăng theo. Có nơi, sau khi RNM bị phá hủy, tốc độ gió của khu vực tăng lên đột ngột, gây ra hiện tượng sa mạc hóa do cát di chuyển vùi lấp kênh rạch và đồng ruộng. Tốc độ gió tăng lên gây ra sóng lớn làm vỡ đê đập, xói lở bờ biển. Mất RNM sẽ ảnh hưởng đến lượng mưa của tiểu khu vực.

            RNM ở vùng vịnh Fort de France thuộc quần đảo Martinique  (Pháp) bị giảm một diện tích rất lớn do chất thải công nghiệp, ngay sau đó lượng mưa ở khu vực này thay đổi, tốc độ gió vùng bờ biển tăng lên, ô nhiễm và tiếng ồn đi kèm với bệnh dịch lan tràn (Blasco,1975).

            Chỉ trong vòng vài chục năm trở lại đây, một diện tích đáng kể RNM ở Cà Mâu đã bị khai phá để làm đầm tôm quảng canh. Hậu quả là vẻ đẹp cảnh quan mất đi kèm theo hàng chục nghìn hécta đất bị hoang hóa. Nhiều kênh rạch trước đây là nơi cung cấp thức ăn, nơi nuôi dưỡng ấu trùng tôm cá, nay bị cát vùi lấp, khí hậu oi bức và khắc nghiệt cùng với nạn ô nhiễm bao trùm cả một vùng rộng lớn. Một ví dụ rất điển hình là việc mất rừng do chất độc hóa học của Mỹ đối với RNM ở miền Nam Việt Nam. Hàng chục ngàn hecta RNM bị phá trụi, đất bị phơi dưới ánh nắng mặt trời, nồng độ muối trên lớp đất mặt ở Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh có nơi lên tới 35- 40%o. Mất thảm thực vật đã ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái, các điều kiện tự nhiên cũng như khí hậu của khu vực. Sau khi phục hồi rừng, cảnh quan và khí hậu để thay đổi theo chiều hướng tốt và thành phố Hồ Chí Minh coi đây là “lá phổi” của thành phố (Hồng (chủ biên) 1999).

1.2.3.2. Mở rộng diện tích đất bồi, hạn chế xói lở

Sự phát triển của RNM và mở rộng diện tích đất bồi là hai quá trình luôn luôn đi kèm nhau trừ một số trường hợp đặc biệt. Nhìn chung, những bãi bồi có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp, có nguồn giống và được bảo vệ đều có cây ngập mặn.

Tác dụng của các dải RNM vùng ven biển, cửa sông đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển đất bồi tụ, hạn chế xói lở bờ, làm giảm tốc độ gió, sóng và dòng triều vùng có đê ven biển và trong cửa sông.

Rễ cây ngập mặn, đặc biệt là những quần thể thực vật tiên phong mọc dày đặc có tác dụng làm cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn. Chúng vừa ngăn chặn có hiệu quả hoạt động công phá bờ biển của sóng, đồng thời là vật cản làm cho trầm tích lắng đọng. Mặt khác RNM có tác dụng hạn chế xói lở và các quá trình xâm thực bờ biển.

Ở vùng hạ lưu và cửa biển, cửa sông lớn như hệ thống sông Hồng, sông Cửu Long, phù sa thường ngưng đọng ở trên lòng sông và ngoài cửa sông tạo nên những hòn đảo nổi. Trong điều kiện thuận lợi thì chỉ sau một thời gian, các loài cây ngập mặn tiên phong sẽ đến cư trú tạo môi trường cho nhiều loài cây đến sau và đất bồi được nâng dần lên như Cồn Ngạn, Cồn Lu ở Nam Định, Cồn Trong và Cồn Ngoài ở Tây Nam mũi Cà Mâu.

            Tỉnh Bến Tre là một ví dụ điển hình. Toàn bộ đất đai của Bến Tre là các “cù lao” hình thành do phù sa của các nhánh sông Tiền, trong đó cây ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, nâng cao đất để dần dần trở thành vùng đất nông nghiệp và khu dân cư.

1.2.3.3. Hạn chế xâm nhập mặn

Khi RNM chưa bị tàn phá nhiều thì quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm và phạm vi hẹp vì khi triều cao, nước đã lan toả vào trong những khu RNM rộng lớn; hệ thống rễ dày đặc cùng với thân cây đã làm giảm tốc độ dòng triều, tán cây hạn chế tốc độ gió.

Nhưng trong những năm gần đây, do phá hầu hết RNM ở ven biển để đắp bờ làm ruộng sản xuất cây nông nghiệp, đặc biệt là việc đắp những dãy bờ lớn để làm đầm tôm quảng canh làm thu hẹp phạm vi phân bố của nước triều ở ven biển, cửa sông. Do đó mà nước mặn theo dòng triều lên, được gió mùa hỗ trợ đã lấn theo các dòng sông vào sâu trong đất liền với tốc độ lớn.

Nước mặn vào sâu kèm theo sóng đã gây ra xói lở bờ sông và cả các chân đê. Mặt khác nước mặn sẽ thẩm thẩu qua thân đê vào đồng ruộng khiến cho năng suất bị giảm, tình trạng thiếu nước ngọt ảnh hưởng đến sản xuất và sử dụng trong sinh hoạt (Hồng (chủ biên), 1997).

1.2.3.4. RNM làm giảm thiểu tác hại của sóng, bão lụt

            Các dải RNM phòng hộ ven biển đã có tác dụng rất lớn trong việc làm giảm thiểu tác hại của sóng do bão gây nên, nhờ thế đã bảo vệ được các đê biểm trong các cơn bão lớn, qua đó tài sản và sinh mạng của cộng đồng ven biển cũng được bảo vệ an toàn.

            Năm 2001, một cơn bão lớn đổ bộ vào huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, nhờ các dải RNM trồng ở 9 xã vùng nước lợ nên hệ thống đê sông Nghèn không bị hư hỏng. Nhân dân thị xã Hà Tĩnh có nhận xét: Nếu không được Quĩ Cứu trợ Nhi đồng Anh (SCF-UK) giúp đỡ trồng RNM thì đê Đồng Môn đã bị vỡ và thị xã Hà Tĩnh đã bị ngập sâu, thiệt hại do cơn bão này sẽ khôn lường.

            Năm 1996, khi cơn bão số 2 đổ bộ vào huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình nhờ có các dải RNM rộng nên đê biển, bờ nhiều đầm không bị hỏng, trong lúc huyện Tiền Hải do phá phần lớn RNM nên hầu hết các bờ đầm đều bị xói lở hoặc bị vỡ.

            Dưới đây là một số nghiên cứu về tác dụng của RNM trong việc làm giảm sóng trong các cơn bão do NCS Vũ Đoàn Thái (Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái RNM) tiến hành tại Hải Phòng (với sự giúp đỡ về thiết bị của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển Hải Phòng và bộ đội hải quân):

            Các dải rừng bần chua (Sonneratia caseolaris) thuần loại ở khu vực Cống Rộc thuộc xã Vinh Quang(1) trồng năm 1995 có chiều rộng khoảng 920m, chiều cao trung bình của cây 8 – 9m, đường kính (vị trí 1,3m) 15 – 18cm. Kết quả đo độ cao sóng trong cơn bão số 7 ngày 28/9/2005 và hệ số suy giảm cho thấy: Lúc triều cao nhất kết hợp với gió đúng hướng vào rừng, độ cao sóng trung bình tại vùng nước nông cách rừng 180m là 0,43m, sau chân rừng bần có độ rộng 920m thì độ cao sóng đã giảm xuống chỉ còn 6,8cm. Độ cao và hệ số suy giảm độ cao sóng trung bình qua mỗi đoạn rừng là: sau 100m đầu độ cao còn 0,39m và hệ số suy giảm là 31%; sau 300m còn 0,19m và 57%; sau 500m còn 0,13m và 69%; sau 700m còn 9,8cm và 77%; sau 920m còn 6,8cm và 84% (hình 9 và 10).

Rừng trang trồng (Kandelia obovata) ở Bàng La, Đồ Sơn, Hải Phòng: Các dải RNM ở Bàng La được trồng từ 1997 và đến 1999 trồng xen bần chua (Sonneratia caseolaris)(2) mật độ thưa. Hiện nay chiều cao trung bình của tán trang là 1,72m (5 tuổi) và 1,95m (6 tuổi), bần chua 3,8m, chiều rộng khoảng 650m.

 

 

Thời gian đo sóng từ 11h15 đến 15h45 trong cơn bão số 6 ngày 17/9/2005.

            Các kết quả tính toán và phân tích cho thấy: Lúc triều cao nhất kết hợp với gió đúng hướng, độ cao sóng trung bình tại vùng nước nông cách rừng 150m là 0,42m, sau chân rừng trang có chiều rộng 650m thì độ cao sóng đã giảm xuống chỉ còn 2,5cm. Độ cao và hệ số suy giảm độ cao sóng trung bình qua mỗi đoạn rừng là: sau 150m đầu độ cao còn 0,195m và hệ số suy giảm là 53,7%; sau 250m còn 9,4cm và 77,7%; sau 350m còn 5,4cm và 87,4%; sau 450m còn 4,9cm và 88,4%; sau 550m còn 4,3cm và 89,9%; sau 650m còn 6,5cm và 94,1% (hình 11 và hình 12).

Hộp 1. Tác hại của các cơn bão năm 2005 đối với đê điều và nhà cửa

Năm 2005, Việt Nam hứng chịu nhiều cơn bão hơn những năm trước, sức tàn phá của bão cũng mạnh hơn và rộng hơn, gây ra những thiệt hại to lớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng. Nhiều đoạn đê biển bị vỡ hoặc sạt lở, nước mặn tràn vào nội đồng, lũ quét tàn phá một số vùng miền núi. Qua các thông tin từ đài báo, trên mạng Internet, chúng tôi trích dẫn một số nội dung liên quan đến đê biển, phương tiện bảo vệ quan trọng nhất, nhưng chưa đủ khả năng chống chịu những cơn bão có sức gió mạnh cấp 10, 11, 12 như thời gian vừa qua.

Cơn bão số 2 đổ bộ vào các tỉnh ở ven biển Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ ngày 1/8/2005 với sức gió cấp 8, cấp 9, cấp 10, có lúc cấp 12 kèm theo mưa lớn, thuỷ triều dâng cao làm cho nhiều tuyến đê hư hỏng nặng như đê Vĩnh Bảo, An Lão, Tiên Lãng (Hải Phòng), Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thuỷ (Nam Định), Bắc Cửa Lục, Hoành Bồ (Quảng Ninh). Ở đảo Cát Hải, bão kết hợp triều cường làm nước dâng cao 4,5 – 5m tràn qua mặt đê, làm cho đê vỡ nhiều đoạn. Tại Đồ Sơn, trên đê biển 1 có đoạn bị sụt sâu đến 2m, trên đê biển 2 đoạn từ km số 6 đến km 1 cũng bị nước biển tràn qua.

Trong tháng 9/2005, hai cơn bão mạnh số 6 và số 7 đã liên tiếp đổ bộ vào miền Bắc Việt Nam.

Bão số 6 (18 - 19/9/2005) với sức gió mạnh cấp 8, 9, vùng gần tâm bão đi qua cấp 10, giật trên cấp 10 kèm theo mưa lớn kết hợp triều cường nên nước biển dâng cao đã làm đổ nhà cửa, gây ngập lụt nhiều nơi. Nhiều đoạn đê biển ở các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Nghệ An bị sạt lở nặng. Ở Đồ Sơn, Hải Phòng, nhiều tuyến đê biển bê tông ở đảo Cát Hải bị sạt lở, thị xã Đồ Sơn bị ngập sâu. Ở Quảng Bình, Quảng Trị mưa to đã gây ngập lụt nhiều nơi và nhiều tuyến đường trong đó có đường Hồ Chí Minh bị sạt lở nghiêm trọng (Theo Vietnamnet, 9/2005).

Khi các tuyến đê chưa kịp phục hồi thì sáng ngày 27/9/2005, cơn bão mạnh với sức gió trên cấp 12 đã đổ bộ vào Nam Định làm vỡ 3 đoạn đê ở Hải Hậu và sạt lở nhiều đoạn đê ở Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng.

Chiều 27/9/2005, bão số 7 đã phá vỡ 12km đê biển Ninh Phúc, Hậu Lộc và đưa nước tràn qua các tuyến đê biển các huyện khác buộc hàng vạn dân phải sơ tán.

Nguồn: Hồng và cs 2005

 

II. Tình hình quản lý rừng ngập mặn

2.1. Hiện trạng quản lý Nhà nước về rừng ngập mặn

Toàn bộ diện tích RNM hiện nay do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT) quản lý mà trực tiếp là Cục Lâm nghiệp và Cục Kiểm lâm. Cục Kiểm lâm được Bộ giao nhiệm vụ theo dõi công tác bảo vệ rừng, diễn biến tài nguyên rừng trong đó có RNM và trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên. Hiện nay hai loại vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên có RNM đều phân cấp cho các tỉnh quản lý. Cục Lâm nghiệp chịu trách nhiệm về các kế hoạch phụ hồi, phát triển rừng.

Ở cấp tỉnh, các khu RNM do Sở NN&PTNT quản lý, một số tỉnh Chi cục Lâm nghiệp trực tiếp quản lý. Chi cục Kiểm lâm theo dõi việc bảo vệ rừng, thi hành các pháp lệnh về bảo vệ rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng. Ở một số tỉnh có vườn quốc gia (VQG) RNM như Nam Định, Cà Mau thì các VQG đó trực tiếp do uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh quản lý. Tuy nhiên các kế hoạch có liên quan tới lâm nghiệp cũng đều do các Sở NN&PTNT xem xét.

Theo qui định của Luật Đất đai, các huyện có trách nhiệm quản lý đất đai của huyện, có thẩm quyền cấp đất, thu hồi đất của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình do huyện quản lý nên các diện tích RNM cũng do huyện quản lý. Các Hạt Kiểm lâm huyện chịu trách nhiệm giải quyết các vấn đề có liên quan lâm luật. Diện tích RNM và vai trò, chức năng chính của rừng ở miền Bắc và miền Nam có sự khác biệt nhất định nên hệ thống tổ chức quản lý RNM có các hình thức khác nhau.

2.1.1. Hệ thống quản lý RNM ở miền Bắc

            RNM ở miền Bắc giữ vai trò chính là phòng hộ ven biển, nâng cao giá trị kinh tế sử  dụng nguồn lợi thuỷ sản, các giá trị cảnh quan và đa dạng sinh học của rừng (khu RAMSAR, các VQG, Khu bảo tồn thiên nhiên). Việc kinh doanh, khai thác RNM không đặt ra. Do vậy không hình thành các lâm ngư trường tổ chức quản lý, kinh doanh RNM. Hầu hết các RNM đều giao cho xã trực tiếp quản lý. Các hệ thống và hình thức quản lý tóm tắt như sau:

* Vườn Quốc gia

            Có một VQG Xuân Thuỷ (Nam Định). Đây là khu RAMSAR đầu tiên được công nhận ở Việt Nam (1989). VQG trực thuộc UBND tỉnh quản lý.

* Khu Bảo tồn thiên nhiên RNM Tiền Hải, Thái Bình

            Quyết định thành lập do UBND tỉnh ký. Ban Quản lý khu bảo tồn gồm hai thành phần:

Kiêm nhiệm: Chủ tịch huyện – Trưởng ban; Trưởng phòng Tài nguyên Môi trường huyện – Phó Trưởng ban.

Chuyên trách: Trưởng phòng Kinh tế Biển và 4 cán bộ trực tiếp hoạt động

            Ở vùng đệm có RNM giao cho các xã trực tiếp quản lý. Các xã thành lập các tổ bảo vệ đóng ở các chốt tạm thời để bảo vệ rừng dựa trên kinh phí dự án 661, được đánh bắt thuỷ sản tự nhiên theo qui định phù hợp, không làm huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản.

* Các vùng RNM khác của các tỉnh Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng như đã nêu trên dưới sự quản lý của các Sở NN&PTNT, trực tiếp là Chi cục Lâm nghiệp ở các tỉnh có nhiều rừng như Quảng Ninh, các Chi cục Kiểm lâm tỉnh, tiếp theo đó là UBND huyện, các Hạt Kiểm lâm huyện. Tại các huyện có phòng kinh tế trong đó có nhiều tổ chuyên môn như trồng trọt, thuỷ sản, công nghiệp… bộ phận theo dõi lâm nghiệp thường nằm trong tổ trồng trọt hoặc thuỷ sản.

            RNM thuộc các xã do UBND xã quản lý, hầu hết RNM không giao cho các hộ quản lý bảo vệ vì ở xã khu dân cư. Hình thức phổ biến là các xã hình thành tổ hoặc ban bảo vệ RNM bao gồm đại diện chính quyền, công an, quân sự, cựu chiến binh, các thôn trưởng có RNM dưới hình thức kiêm nhiệm, không có lương, thù lao có thể trích từ quỹ bảo vệ rừng của Chữ thập đỏ hoặc Dự án 661. Hầu hết các tỉnh ở ngoài Bắc đa số trồng RNM do Hội Chữ thập đỏ đầu tư trực tiếp tới các hộ kể từ khi trồng tới khi rừng hình thành và tiếp tục bảo vệ. Rừng hình thành giao lại cho các xã quản lý. Do vậy công bảo vệ hiện chủ yếu dựa vào kinh phí của Hội Chữ thập đỏ đầu tư cho tới hết năm 2005. Một số tỉnh có duyệt kế hoạch trồng rừng và bảo vể ừng của Dự án 661 như tỉnh Thái Bình, Nam Định. Một số xã có cho thuê khu bãi bồi khai thác thuỷ sản bên cạnh RNM hoặc dưới RNM thì chịu trách nhiệm bảo vệ RNM. Tuy nhiên, những diện tích này không nhiều và thời gian thuê cũng chỉ có 1 năm. Tóm lại, chủ yếu RNM được quản lý trực tiếp bởi UBND xã thông qua các tổ bảo vệ rừng. Các qui ước của cộng đồng hầu như chưa đề cập tới.

2.1.2. Hệ thống quản lý RNM ở miền Nam

            Điều tra khảo sát được tiến hành ở tỉnh Cà Mau, nơi có diện tích RNM lớn nhất Việt Nam. RNM ở đây giữ chức năng phòng hộ ven biển, bảo tồn đa dạng sinh học, sản xuất. Do vậy hệ thống quản lý RNM phù hợp với các chức năng chủ yếu của rừng.

 

* VQG Đất Mũi

            Hệ thống quản lý giống như các VQG khác. VQG này cũng trực thuộc UBND tỉnh quản lý. Trong vườn có Trạm Kiểm lâm làm nhiệm vụ bảo vệ rừng. Ngoài ra bộ đội biên phòng Đất Mũi cũng phối hợp bảo vệ rừng.

* Lâm ngư trường: có hai hình thức tham gia quản lý rừng ở các lâm ngư trường

            - Hầu hết rừng và đất rừng giao cho các hộ quản lý theo Nghị định 01 củ Chính phủ. Người dân tham gia bảo vệ rừng, trồng rừng và được hưởng lợi theo qui định của tỉnh sau khi rừng được khai thác. Ngoài ra các hộ được tiến hành nuôi tôm sinh thái trong rừng, được hưởng lợi hoàn toàn. Có thể một phần nhỏ rừng thuộc lâm ngư trường quản lý như khu bảo tồn rừng, du lịch cảnh quan.

            - Một phần diện tích rừng và đất rừng được giao cho các hộ quản lý theo Nghị định 01. Phần lớn diện tích còn lại do Lâm ngư trường quản lý thông qua các tổ bảo vệ của lâm trường.

            Mối quan hệ giữa Lâm ngư trường (LNT) và các xã, ấp (thôn), các hộ dân thông qua nhiều hình thức:

            - Lâm trường chia ra các tiểu khu, mỗi tiểu khu do hai người phụ trách. Dưới tiểu khu là các Ban quản lý khu vực gắn với các cụm dân cư (ấp). Mỗi Ban quản lý có 1 trưởng ban và 2 phó ban được nhận phụ cấp từ LNT. Dưới các Ban Quản lý là các tổ gồm 20-30 hộ có 1 tổ trưởng. Như vậy việc bảo vệ rừng được gắn kết chặt chẽ với người dân theo tổ chức nhất định là các tổ dân nhận rừng và đất rừng. Hàng tháng LNT còn tổ chức nghe ý kiến của dân. Mô hình quản lý này đã thực hiện tốt trong nhiều năm ở LNT 184.

            - Hình thành Hội Nông dân trực thuộc LNT. Dưới Hội Nông dân là tổ nông dân gồm 20-30 hộ dân cư nằm trong một ấp. Các tổ nông dân có những cam kết, qui ước về bảo vệ rừng thông qua lâm trường và xã. Tổ nông dân dưới sự chỉ đạo của các tiểu khu. Mỗi tổ nông dân có một tổ trưởng, 2-3 tổ phó hoạt động kiêm nhiệm, không có lương. Tổ nông dân coi như một tổ tự quản dân cư, chịu trách nhiệm chung cả vấn đề an ninh xã hội, phát triển sản xuất, đặc biệt quan tâm tơíu vấn đề bảo vệ rừng và khuyến ngư. Hàng tháng các tổ nông dân đều họp đánh giá tình hình thực hiện các cam kết, qui ước… Hội Nông dân có Chủ tịch Hội. LNT Đầm Dơi đang thực hiện mô hình quản lý này rất có hiệu quả.

* Các hệ thống quản lý khác: Ngoài hai hệ thống quản lý chủ yếu là VQG và LNT, ở Cà Mau còn có các hệ thống quản lý sau:

            - Các ban quản lý rừng mà tiền thân là các LNT trước kia như Năm Căn, Tắc Biển, Nhưng  Miên, Đất Mũi, 13/12

            - Ban Quản lý rừng phòng hộ biển Tây do lực lượng kiểm lâm chịu trách nhiệm.

            - Quân đội quản lý một số LNT như LNT Tràng Sáo, LNT 414.

            - Công an quản lý: Nông lâm trường Công an.

            - Phòng Nông nghiệp huyện, Uỷ ban xã quản lý một số diện tích hẹp có tính chất đặc thù như sân chim…

            - Trung tâm Nghiên cứu Rừng ngập thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp quản lý một số diện tích rừng nghiên cứu.

            Theo qui hoạch của Sở NN&PTNT tới 2010 thì sắp tới hệ thống quản lý sẽ rút gọn đầu mối lại gồm 2 Công ty Lâm nghiệp (184, Tam Giang 3) và 8 Ban Quản lý rừng phòng hộ. Công ty hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Trong Ban Quản lý rừng phòng hộ đều có cả rừng sản xuất. Đai rừng phòng hộ phía Đông đề xuất mở rộng hơn, rộng rới 4km so với 1km theo qui định hiện nay. Ở Cà Mau, toàn bộ hệ thống rừng phòng hộ ven biển hoặc do lực lượng kiểm lâm, quân đội quản lý hoặc do các LNT quản lý không giao cho dân vì trong rừng phòng hộ ven biển chủ yếu chỉ bảo vệ, không phát triển kết hợp nuôi trồng thuỷ sản.

 

2.2. Các vấn đề liên quan đến hệ thống quản lý RNM ở Việt Nam

2.2.1. Thể chế, chính sách cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở vùng RNM

2.2.1.1. Những văn bản quy định của pháp luật

a) Các văn bản của Nhà nước

            - Luật Đất đai của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1993).

            - Luật Bảo vệ Môi trường của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1993) và Nghị định số 175/CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường.

            - Quyết định số 1336 – BNN – HĐBT ngày 19/04/1999 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về phê duyệt kế hoạch hành động tái định cư và kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số dự án “Bảo vệ phát triển những vùng đất ngập nước ven biển Việt Nam” trên địa bàn các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Trà Vinh.

            - Quyết định số 116/1999/TTg ngày 03/05/1999 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch phân vùng RNM thuộc các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng và Trà Vinh.

            - Quyết định 08/2001/QĐ TTg ngày 11/1/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên.

b) Các văn bản của địa phương

            - Quyết định 24/2002/QĐ-UB ngày 12/9/2002 của UBND tỉnh Cà Mau quy định cụ thể như sau:

            * Quy hoạch đất Lâm nghiệp:

            + Các LNT, Ban Quản lý (BQL) bảo vệ và phát triển rừng phối hợp huyện, xã và cá ngành chức năng tiến hành quy hoạch lại đất sản xuất, tuyến dân cư, cụm dân cư tập trung trình UBND tỉnh phê duyệt.

            + Tuỳ điều kiện cụ thể, LNT, BQL bảo vệ và phát triển rừng, BQL rừng phòng hộ đặc dụng kết hợp huyện, xã và hộ dân bàn bạc chọn lựa mô hình sản xuất: rừng – tôm kết hợp, hoặc tách tôm ra khỏi rừng và cho phép được đào khuôn bao (thủ công hoặc cơ giới) nhưng phải đảm bảo tỷ lệ diện tích đất trồng rừng và trình tự thực hiện hteo quy định.

            + Quy hoạch sử dụng đất trong từng LNT, BQL bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo tỷ lệ 70% diện tích rừng, 30% diện tích sản xuất ngư nông kết hợp.

            + Tuỳ điều kiện đặc thù của từng LNT, BQL bảo vệ và phát triển rừng, cho phép vận dụng tỷ lệ như sau:

                        Diện tích từ 5ha trở lên: 70%, 30% ngư – nông.

                        Diện tích từ 3-5ha: 60% rừng, 40% ngư – nông.

                        Diện tích < 3ha: 50% rừng, 50% ngư – nông.

            + Đối với các tổ chức khác, sử dụng đất lâm nghiệp để sản xuất ngư – nông kết hợp với tỷ lệ không vượt quá 30% tổng diện tích được giao.

            * Chính sách đất đai và hưởng lợi:

            + Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng LNT, chọn khu phù hợp tiến hành thí điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (sổ đỏ) cho hộ dân trong lâm phần theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ kể cả diện tích đất ở, đất rừng và đất sản xuất nông lâm kết hợp trong lâm phần.

            + Đối với rừng sản xuất là rừng trồng do chủ rừng (LNT, hộ dân) tự đầu tư gây trồng (tự bỏ vốn hay tự vay vốn để trồng) thì chủ rừng được quyền quyết định thời điểm, phương thức khai thác và tiêu thụ trên cơ sở kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và có trách nhiệm tái tạo lại rừng sau khi khai thác không quá 12 tháng.

            + Rừng do hộ gia đình tự bỏ vốn ra trồng, chăm sóc, bảo vệ được hưởng 95% sản phẩm khai thác sau khi nộp thuế.

            + Rừng do LNT bỏ vốn trồng giao cho hộ dân quản lý, chăm sóc, bảo vệ sau khi khai thác được chia theo tỷ lệ sau:

            Rừng trồng dưới 3 tuổi, khi khai thác hộ dân phải trả LNT các khoản chi phí trồng và chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng từ khi trồng đến khi giao (định mức dựa theo phương án thiết kế được duyệt), chi phí trả lãi vốn ngân hàng, chi phí khai thác và nộp thuế, phần còn lại hộ dân được hưởng 80%.

            Rừng trồng dưới 3-5 tuổi, khi khai thác hộ dân phải trả LNT các khoản chi phí trồng và chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng khi trồng đến khi giao (định mức dựa theo phương án thiết kế được duyệt), chi phí trả lãi vốn ngân hàng, chi phí khai thác và nộp thuế, phần còn lại được hộ dân được hưởng 65%.

            Rừng trồng từ 5 tuổi trở lên, cứ mỗi năm nhận khoán quản lý, chăm sóc và bảo vệ rừng hộ dân được hưởng 6% giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế và chi phí khai thác.

2.2.1.2. Chính sách kinh tế về lâm nghiệp của Nhà nước

            Trong những năm qua, đi đôi với quy hoạch và luật pháp, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách kinh tế nhằm tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia quản lý, bảo vệ và tổ chức sản xuất kinh doanh rừng.

            - Quyết định số 661/TTg ngày 29/05/1998 của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách tổ chức thực hiện dự án 5 triệu hecta rừng. Trong quyết định có ghi rõ các chính sách về đất đai (điều 5); chính sách đầu tư tín dụng (điều 7); chính sách hưởng lợi và tiêu thụ sản phẩm (điều 7); chính sách thuế (điều 8).

            - Quyết định số 178/TTg ngày 16/09/1999 về đổi mới cơ chế và cơ chế hoạt động của LNT quốc doanh.

            - Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về giao đất; cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.

Chính sách tại địa phương

            - Gần đây tỉnh Cà Mau có quyết định số 24/2002/QĐ-UB ngày 12/9/2002 vận dụng chính sách của Nhà nước vào điều kiện cụ thể của địa phương và có một số quy định như sau:

            + Chính sách đầu tư và tín dụng:

            Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng và phát triển các cơ sở chế biến lâm nông sản được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định của luật khuyến khích đầu tư trong nước, được vay vốn từ quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển, các nguồn vốn tín dụng khác.

            Chủ rừng được sử dụng rừng sản xuất vả quyền sử dụng đất lâm nghiệp được, giao, làm tài sản thế chấp để vay vốn tại ngân hàng nhằm đầu tư phát triển vốn rừng.

            Hộ thành viên nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp theo Nghị định 01/CP ngày 04/1/1995 của Chính phủ, được phép thế chấp thành quả lao động theo hợp đồng nhận khoán để vay vốn tại ngân hàng, thông qua xác nhận củ các LNT, BQL bảo vệ và phát triển rừng, BQL rừng phòng hộ, đặc dụng.

            Khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế vốn phát triển lâm nghiệp. Đẩy nhanh các hoạt động tiếp thị, nghiên cứu tìm hiểu thị trường và thị hiếu người tiêu dùng để sản xuất những sản phẩm thích hợp có lợi nhuận cao cho người sản xuất.

Chính sách thuế

            + Các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được giao đất lâm nghiệp để sử dụng ổn đinh, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp theo Nghị định 163/CP là đối tượng nộp thuế. Việc sử dụng đất theo mục đích thì nộp thuế theo diện tích của mục đích đó. Hộ thành viên nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp theo Nghị định 01/CP không là đối tượng nộp thuế, nhưng có trách nhiệm về thuế thông qua giao nhận khoán với chủ rừng (LNT, BQL bảo vệ và phát triển rừng, BQL rừng phòng hộ, đặc dụng).

            + Không thu thuế sử dụng đất trùng lặp trên một đơn vị diện tích; không phải nộp thuế với sản phẩm phụ thu hoạch dưới tán rừng (các sản phẩm thu được từ giải pháp lâm sinh làm giàu rừng và sản phẩm phụ).

            + Căn cứ khoản 2 điều 6 của Quyết định 187/TTg thì Nhà nước cấp lại cho lâm trường quốc doanh toàn bộ thuế thu nhập doanh nghiệp để đầu tư tái tạo rừng và thực hiện các nghĩa vụ công ích khác của lâm trường theo dự toán được UBND tỉnh phê duyệt.

2.2.2. Đánh giá chung

Hệ thống quản lý RNM

            Từ Trung ương tới địa phương hiện nay thực hiện theo qui định chung về rừng và đất rừng. Ở Trung ương và Bộ NN&PTNT mà trực tiếp là 2 Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm. Tuy nhiên sự phối hợp giữa hai Cục chưa chặt chẽ trong quản lý RNM. Mối quan hệ với các Bộ có liên quan đặc biệt là Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý đất ngập nước, Bộ Thuỷ sản còn yếu. Cán bộ quản lý ở Trung ương còn hạn chế kiến thức tổng hợp về hệ sinh thái RNM, đa phần hiểu biết sâu hơn về rừng trên đất liền.

            Ở ngoài Bắc, RNM chủ yếu do xã trực tiếp quản lý, hầu hết không giao cho các hộ mà thông qua các tổ bảo vệ kiêm nhiệm hoặc chuyên trách đóng chốt ở rừng. Các huyện chịu trách nhiệm quản lý đất đai trong đó có RNM thường do phòng kinh tế theo dõi trong đó RNM nằm trong tổ thuỷ sản hoặc nông nghiệp. Nhìn chung cán bộ ở tính, huyện có hiểu biết khá về RNM gắn với nuôi trồng thuỷ sản vì họ trực tiếp tiếp cận với những vấn đề thực tiễn. Ở ngoài Bắc có một VQG đó là VQG RNM Xuân Thuỷ có nhiều mối quan hệ quốc tế vì là khu RAMSAR. Vườn trực tiếp do UBND tỉnh quản lý, có mối quan hệ chặt chẽ với huyện và xã, với các hộ dân chung quanh nên được sự ủng hộ trong việc bảo vệ rừng. Trong vườn có lực lượng kiểm lâm của vườn nhưng cũng có lực lượng kiểm lâm của huyện tham gia bảo vệ rừng và chỉ lực lượng kiểm lâm của huyện mới có quyền xử lý các vụ vi phạm. Xã có những qui ước, cam kết được ký kết giữa chính quyền, VQG, hộ hay tổ nhận khai thác bền vững thuỷ sản ở phân khu phục hồi sinh thái. VQG cũng xây dựng quỹ tín dụng cho dân vay.

            Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tiền Hải có BQL kiêm nhiệm và chuyên trách do Trưởng phòng Tài nguyên Môi trường của huyện là Phó ban kiêm nhiệm, Trưởng phòng Kinh tế Biển là Trưởng ban chuyên trách.

            Nhìn chung, ở ngoài Bắc vai trò của cộng đồng trong xã chưa được chú ý đúng mức trong quản lý bảo vệ rừng, đa phần dựa vào các tổ bảo vệ.

            … (giống phần trên).

Thể chế chính sách

            Ở miền Bắc, các thể chế chính sách riêng cho RNM hầu như rất ít, chủ yếu theo các chính sách chung của Nhà nước. Điều quan trọng ở ngoài Bắc là chính sách đối với RNM phòng hộ ven biển cần được quan tâm cả về đầu tư lẫn bảo vệ, gắn với đầu tư trong thuỷ lợi, đê điều. Cần có những quy định pháp lý về phòng hộ ven biển bao gồm cả dải rừng và hệ thống đê biển.

            Ở miền Nam các chính sách về RNM đa dạng và cụ thể hơn như thực hiện giao đất, khoán rừng cho người dân theo Nghị định 01/CP, các chính sách hưởng lợi được tăng cường hơn. Theo Quyết định 24/2003 của UBND tỉnh Cà Mau có qui định rõ diện tích nuôi tôm và rừng theo trường hợp cụ thể. Lợi ích nuôi tôm dân được hưởng hoàn toàn. Các vùng nuôi tôm sinh thái ở LNT 184 có chứng chỉ tới các hộ, giá tăng 20% so giá hiện hành. Đối với rừng sau khai thác được chia sản phẩm có thể tới 60-70%. Ngoài ra mỗi LNT đều có những qui định riêng gắn quyền lợi của người dân với bảo vệ rừng.

            Ở Cà Mau, hiện đã có đề án đổi mới tổ chức hoạt động, sản xuất lâm nghiệp theo sắp xếp mới gọn nhẹ hơn và có hiệu quả hơn.

            Về chính sách đối với các VQG, RNM mang tính chất của khu đất ngập nước cần có những quy ước cụ thể hơn về việc sử dụng khôn khéo nguồn lợi thuỷ sản, một số qui chế cũng cần có những thay đổi nhất định để phù hợp với vùng đất ngập nước.

Vấn đề quy hoạch vùng RNM và nuôi trồng thuỷ sản

            Hiện đã được các tỉnh quan tâm. Các tỉnh đều đặt ra nguyên tắc là qui hoạch nuôi trồng thuỷ sản không xâm phạm tới RNM. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã có quyết định về vấn đề này. Tuy nhiên trong thực tiễn sự phối hợp giữa các ngành chưa chặt chẽ, nên đã xảy ra việc phá RNM để nuôi tôm công nghiệp ở nhiều tỉnh.

            Việc qui hoạch hệ thống RNM đã rất quan tâm tới đai rừng phòng hộ ven biển. Ở ngoài Bắc, RNM ven biển chủ yếu giữ vai trò phòng hộ, ở Cà Mau rừng phòng hộ ven biển Đông trở nên cực kỳ quan trọng.

            Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản trong RNM cũng được chú ý ở miền Nam, đặc biệt ở Cà Mau theo 2 khuynh hướng: tôm xen kẽ rừng và tôm tách biệt rừng. Khuynh hướng tôm sinh thái đang được phát triển, mở rộng. Tôm tách biệt rừng có điều kiện nuôi thâm canh hơn nhưng cần tránh xu hướng tách hẳn khỏi rừng và nên áp dụng ở những nơi gần sông, điều kiện lưu thông nước, thuỷ triều thuận lợi hơn. Nuôi tôm sinh thái còn tồn tại là nạo vét bùn bã gây ô nhiễm chung chưa giải quyết được. Đó còn là vấn đề lớn cho nuôi tôm nói chung ở Cà Mau.

            Một điểm đáng chú ý là qua khảo sát ở miền Bắc nhiều ý kiến cho rằng: nuôi công nghiệp quy mô lớn cơ bản là không thành công kể cả các đầu tư lớn của các công ty như Việt Mỹ, Viễn Đông… Nhiều nơi đã thu hẹp lại đất của các công ty. Do vậy qui hoạch nuôi trồng thuỷ sản trong thời gian gần đây đã dè dặt với qui mô nuôi công nghiệp lớn và phá hàng trămg hecta RNM để nuôi tôm.

            Một điều đáng quan tâm là ở Cà Mau, tỉnh có diện tích RNM lớn nhất, cũng chưa chú ý đúng mức xây dựng cơ sở dữ liệu về RNM và áp dụng GIS theo dõi hiện trạng rừng, qui hoạch rừng.

2.3. Các chương trình, dự án, đề tài bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn

2.3.1. Các đề tài, dự án nghiên cứu, bảo vệ phục hồi rừng ngập mặn

            So với các lĩnh vực nghiên cứu sinh học và sinh thái học thì số đề tài nghiên cứu về hệ sinh thái RNM còn  rất khiêm tốn. Cho đến nay chưa có cơ quan nào theo dõi. Chúng tôi tập hợp một số đề tài, dự án đã có kết quả.

            - Trong giai đoạn 1977-1980 chỉ có một đề tài nhánh Nghiên cứu về RNM ở Bến Tre do Phan Nguyên Hồng (Đại học Sư phạm Hà Nội) chủ trì thuộc đề tài Nghiên cứu điều kiện tự nhiên vùng cửa sông ven biển trong chương trình nghiên cứu biển Minh Hải, Thuận Hải.

            - 1981-1985: Uỷ ban Khoa học Nhà nước giao cho Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái RNM (MERC), Đại học Sư phạm Hà Nội tiến hành một đề tài: Nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam do Phan Nguyên Hồng làm chủ nhiệm, đơn vị chủ trì: Đại học Sư phạm Hà Nội 1, cơ quan chủ quản: Bộ Giáo dục, thuộc chương trình trọng điểm Nhà nước: Nghiên cứu tài nguyên và môi trường, mã số 52-02-03, chủ nhiệm: GS. Nguyễn Đình Tứ, thời gian 5 năm, kinh phí 5 triệu đồng (!!!), khu vực tiến hành: ven biển Việt Nam. Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu tình hình và diễn biến của hệ sinh thái rừng ngập mặn của Việt Nam để có cơ sở phục hồi và quản lý RNM.

Đề tài đã tổ chức được 1 hội thảo quốc gia: Hệ sinh thái RNM Việt Nam vào 27-28/12/1984 có Phó Thủ tướng Võ Nguyên Giáp tới dự và đã xuất bản tuyển tập hội thảo. Đề tài đã được Hội đồng đánh giá cấp Nhà nước đánh giá xuất sắc và Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước khen thưởng.

            - 1982-1985: Uỷ ban Khoa học Nhà nước giao cho MERC chủ trì đề tài: Nghiên cứu hậu quả chiến tranh hoá học đối với RNM Minh Hải (mã số 64-02-03) do Phan Nguyên Hồng làm chủ nhiệm, cơ quan chủ quản: Bộ Giáo dục, thuộc chương trình Nhà nước: Nghiên cứu hậu quả của chiến tranh hoá học lên con người và thiên nhiên (mã số 64). Địa điểm nghiên cứu là các tỉnh cs RNM bị rải chất độc hoá học ở miền Đông và miền Tây Nam Bộ, thời gian: 3 năm rưỡi, kinh phí 10 triệu đồng. Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu hiện trạng RNM sau khi bị rải chất chất độc hoá học và đề xuất giải pháp khắc phục.

Đề tài đã đóng góp hai báo cáo cáo về hiện trạng và sự thoái hoá của môi trường đất và nước ở vùng bị rải chất độc hoá học tại Hội thảo quốc tế về chất độc hoá học ở thành phố Hồ Chí Minh (1983). Đề tài được đánh giá xuất sắc và Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước khen thưởng.

- 1986-1990: MERC tiếp tục đề tài Nhà nước: Nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long - Đề xuất biện pháp sử dụng hợp lý (52Đ-02-03) do Phan Nguyên Hòng làm chủ nhiệm, cơ quan chủ quản: Bộ Giáo dục, thuộc chương trình trọng điểm Nhà nước: Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên và môi trường (52Đ) do GS. Võ Quý làm chủ nhiệm, thời gian: 5 năm, địa điểm: các tỉnh ven biển miền Tây Nam Bộ, kinh phí: 15 triệu đồng. Mục tiêu của đề tài là đánh giá vai trò to lớn của hệ sinh thái RNM đối với tài nguyên và môi trường, cuộc sống của cộng đồng địa phương, hướng dẫn cho các Sở Lâm nghiệp về kỹ thuật trồng, bảo vệ RNM, phát triển RNM ở các vùng đất bồi.

Đề tài đã được Hội đồng đánh giá cấp Nhà nước đánh giá xuất sắc và Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước khen thưởng. Chủ nhiệm đề tài được mời sang Mỹ trình bày báo cáo tại hội nghị quốc tế về sinh thái học. Đã xuất bản cuốn sách "RNM: Tiềm năng và sử dụng" (1988).

- 1986-1990: MERC được Uỷ ban Khoa học Nhà nước và Uỷ ban 10-80 giao chủ trì đề tài: Nghiên cứu hậu quả lâu dài của chiến tranh hoá học đến hệ sinh thái RNM (mã số 64A-03-03) do Phan Nguyên Hồng làm chủ nhiệm, cơ quan chủ quản: Bộ Giáo dục, thuộc chương trình Nhà nước: Nghiên cứu hậu quả lâu dài của chiến tranh hoá học lên thiên nhiên và con người. Đề xuất biện pháp khắc phục (mã số 64A) (GS. Hoàng Đình Cầu làm chủ nhiệm).

Mục tiêu: Đánh giá những tổn thất về tài nguyên và môi trường ở những vùng RNM bị rải chất độc hoá học. Nghiên cứu các biện pháp phục hồi rừng với các phương thức trồng khác nhau. Kinh phí thực hiện đề tài: 20 triệu, địa điểm: những vùng bị rải chất độc hoá học ở ven biển miền Đông và miền Tây Nam Bộ.

Đề tài đã được hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước đánh giá xuất sắc và được Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước khen thưởng.

- 1991-1995: Đề tài: Nghiên cứu sử dụng hợp lý hệ sinh thái RNM để nuôi tôm có hiệu quả (mã số KN-04-13) do GS. Phan Nguyên Hồng làm chủ nhiệm, cơ quan chủ quản: Bộ Giáo dục, thuộc chương trình Nhà nước: Phát triển các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao (KN-04) do Thứ trưởng Bộ Thuỷ sản Võ Văn Trác làm chủ nhiệm, kinh phí 55 triệu đồng.

Kết quả: Đã đánh giá được tình hình nuôi tôm trong RNM ở miền Bắc và miền Nam. Xây dựng mô hình lâm ngư kết hợp theo tỷ lệ 70% rừng, 30% nuôi tôm và nơi ở được thực nghiệm thành công ở các lâm ngư trường Tam Giang 3, 18/4, Kiến Vàng (Cà Mâu), được Hội đồng Khoa học Bộ Thuỷ sản chấp nhận và triển khai ở Nam Bộ cho đến nay (2006).

Đề tài được hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước đánh giá xuất sắc; công bố được một số tài liệu về nuôi tôm trong RNM.

- 1996-2000: Nghiên cứu tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái RNM, chủ nhiệm: Phan Nguyên Hồng, cơ quan chủ quản: Bộ Giáo dục và Đào tạo, thuộc chương trình Điều tra cơ bản (KT-04) do GS. Nguyễn Văn Hiệu làm chủ nhiệm, địa điểm: Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mâu, ven biển đồng bằng sông Hồng, kinh phí: 25 triệu.

Kết quả: Đã điều tra sơ bộ hệ thực vật, hệ động vật trong vùng RNM Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Hồng và hệ thực vật ở Tây Nam Bộ.

- Ngoài các đề tài cấp Nhà nước nói trên, có một số đề tài nhỏ cấp Bộ của Viện Khoa học Lâm nghiệp về đất RNM do TS. Ngô Đình Quế chủ trì.

- Một đề tài nghiên cứu về RNM ở 4 tỉnh Cà Mâu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre do tổ chức Arcadis Euroconsult với sự phối hợp của Haskoning và Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng II thành phố Hồ Chí Minh thực hiện (1998-2000).

- Từ 1994-2004: một đề tài nghiên cứu nghiên cứu hệ sinh thái RNM – kinh tế xã hội và tuyên truyền giáo dục của MERC do Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch hỗ trợ trực tiếp với tổng kinh phí 1 tỷ đồng, thực hiện ở vùng ven biển Thái Bình và Nam Định.

Kết quả:

+ Tổ chức 5 hội thảo hàng năm có in tuyển tập tiếng Anh, tiếng Việt.

+ Xuất bản hai cuốn sách Hệ sinh thái RNM đồng bằng sông Hồng: Đa dạng sinh học, sinh thái học, kinh tế - xã hội – quản lý và giáo dục tiếng Anh và tiếng Việt (2004) do Nagao Nhật Bản (NEF) tài trợ.

+ Xây dựng một Trạm Nghiên cứu Hệ sinh thái RNM (MERS) tại xã Giao Lạc, Giao Thuỷ, Nam Định, kinh phí 450 triệu đồng để cho cán bộ sinh viên trong ngoài nước đến nghiên cứu, triển khai các lớp tập huấn cho cộng đồng địa phương.

- Dự án FIS/94/12 "Các mô hình nuôi tôm kết hợp RNM ở đồng bằng sông Cửu Long" xuất bản một cuốn Sổ tay thực hành Kỹ thuật nuôi tôm – rừng kết hợp (tài liệu dành cho cán bộ khuyến ngư).

2.3.2. Trồng lại RNM ở những nơi bị rải chất độc hoá học

            Từ năm 1962 đến 1970 quân đội Mỹ đã dùng chất độc hoá học huỷ diệt gần 150.000ha RNM ở Nam Bộ (Hồng, 1997).

Sau ngày thống nhất đất nước (1975) chính phủ Việt Nam và các địa phương rất quan tâm đến việc phục hồi RNM trên các vùng bị rải chất độc hoá học trong chiến tranh ở miền Nam Việt Nam (Bảng 14).

Bảng 14. Diện tích RNM trồng lại trên các vùng bị rải chất độc hoá học từ 1975 đến 1980

 

Tỉnh

Diện tích (ha)

Nguồn tài liệu

Bến Tre

10.470

Ty Lâm nghiệp Bến Tre, 1981

Trà Vinh

3.990

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Trà Vinh, 1996

Sóc Trăng

1.750

Sở NN&PTNT Sóc Trăng, 1996

Minh Hải (Cà Mau + Bạc Liêu)

25.900

Ty Lâm nghiệp Minh Hải, 1981

Đồng Nai

4.100

Ty Lâm nghiệp Đồng Nai, 1981

Thành phố Hồ Chí Minh

6.240

Nguyễn Đình Cương, 1996

Tổng số

52.450

 

 

            Việc trồng RNM cũng được tiến hành ở một số địa phương khác. Tuy nhiên, hiệu quả của việc trồng RNM nói chung là rất thấp, thậm chí ở một số nơi thất bại (Gò Công, Trà Vinh).

2.3.3. Trồng RNM theo các chương trình của Nhà nước

            Vào thập kỉ 80, Việt Nam gặp khó khăn về kinh tế, thiếu lương thực nên ở nhiều nơi trong nội địa cũng như ven biển, rừng bị tàn phá nhiều để lấy đất trồng lúa. Ngày 15-9/1992, Thủ tướng chính phủ Việt Nam đã có quyết định số 327 CT về các chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước trong đó có chủ trương lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất, có chính sách giao đất giao rừng cho nông dân. Tiếp đó ngày 21/12/1994, chính phủ ra thêm quyết định QĐ 773 về sử dụng đất hoang hoá, bãi bồi ven sông, ven biển và mặt nước, trong đó có việc đầu tư trồng rừng ngập mặn và rừng phi lao phòng hộ bảo vệ đê. Nhờ đó diện tích RNM trồng ở một số địa phương đã tăng lên (bảng 15).

Bảng 15. Diện tích RNM phục hồi ở một số tỉnh theo chương trình của nhà nước

 

TT

Tỉnh, thành phố

Diện tích

(ha)

Nguồn

 

TT

Tỉnh

Diện tích

(ha)

Nguồn

1

Hải Phòng

234

Cục Thống kê (1996)

8

Bến Tre

1804

Ngô An, 2003

2

Thái Bình

1.399

- nt-

9

Trà Vinh

4.137

Việt, 1999

3

Nghệ An

563

- nt-

10

Sóc Trăng

1.404

Khem, 1998

4

Hà Tĩnh

46

- nt-

11

Bạc Liêu

716

Lý, 1999

5

Bà Rịa-VTàu

3.615

Trinh, 1998

12

Cà Mau

18.500

Vinh, 1998

6

TP. H.C. Minh

20.636

Tuấn, 1998

Tổng số

53.517

7

Tiền Giang

463

Khang và cs. 1999

 

            So với thời kì trồng RNM sau chiến tranh (1975-1980) thì việc phục hồi rừng đạt kết quả cao hơn vì các địa phương đã rút được một số kinh nghiệm không thành công trước đây. Tuy nhiên về mặt kỹ thuật vẫn còn yếu kém vì các kỹ sư tốt nghiệp ở một số trường Đại học Lâm nghiệp không được học kiến thức về sinh thái RNM, không nắm được kỹ thuật trồng cây ngập mặn.

Nhiều nơi trồng với mật độ quá dày, cắm trụ mầm quá sâu trong bùn (2/3 trụ mầm) nên tốc độ sinh trưởng chậm, cây con bị hà bám nhiều, nhiều nơi để rong, tảo bám đầy cây con, cây không quang hợp được, nên tỷ lệ sống thấp.

Một nguyên nhân khác là do lợi nhuận từ tôm nuôi xuất khẩu rất cao nên ở một số địa phương như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình (Tiền Hải), Ninh Bình (Kim Sơn), các tỉnh Nam Trụng Bộ, một số tỉnh ở miền Tây Nam Bộ... đã cho dân phá một diện tích đáng kể RNM để làm đầm tôm quảng canh cải tiến hoặc bán thâm canh. Một số nơi tuy có kế hoạch bảo vệ RNM nhưng việc quản lý kém, không có biện pháp ngăn cản tình trạng phá rừng bất hợp pháp để nuôi tôm nên diện tích RNM tiếp tục bị thu hẹp.

Một số địa phương không thực hiện giao đất giao rừng cho nhân dân hoặc giao cho xã quản lý, mà việc quản lý vẫn do cơ quan lâm nghiệp phụ trách, trong lúc ngành này ở địa phương rất thiếu lực lượng bảo vệ, thiếu thiết bị nên hầu như sau khi trồng RNM ít được quan tâm. Nhiều người dân đi bắt hải sản đã đào bới, dùng cào cua làm chết cây mới trồng. Nhiều nơi các chủ thuyền đã chặt rừng thành vệt dài để lấy lối đi, cho tàu thuyền ghé vào bờ... Một số rừng 3-5 tuổi bị dê, trâu bò vào phá, nhiều người vào cạy hà (Balanus) trong rừng cũng tham gia chặt cây ngập mặn.

2.3.4. Các đề án trồng RNM do một số tổ chức phi chính phủ (NGO) tài trợ

            Thông cảm với những tổn thất to lớn về người, tài sản, đất đai (nhiễm mặn), hoa màu, lương thực do bão, lụt gây ra, một số NGO ở Việt Nam như Quỹ Cứu trợ nhi đồng Anh (SCF-UK), OXFAM Anh và Airơlen (OXFAM UK-I), Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch (DRC), Hành động phục hồi RNM (ACTMANG), Công ty bảo hiểm hàng hải và hoả hoạn (Tokio Marine), Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản (JRD) đã hỗ trợ kinh phí kết hợp với sự giúp đỡ về qui hoạch và kĩ thuật của MERC, đã trồng được gần 19.000 ha rừng ngập mặn dọc cửa sông miền Bắc để bảo vệ đê. Theo số liệu của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (2001) và của MERC, 138 xã thuộc 98 huyện ven biển của 8 tỉnh miền Bắc đã được hưởng các đề án trồng RNM và rừng đã phát triển tốt.

Bảng 16. Diện tích rừng ngập mặn đã trồng do các tổ chức NGO tài trợ

TT

Tỉnh/Thành phố

Tổ chức tài trợ

Thời gian trồng

Diện tích

trồng mới*

Diện tích trồng xen (trồng đa dạng loài)**

Tổng số ha

đã trồng

1

Quảng Ninh

JRC

1997-2005

1757

55

1812

ACTMANG

1999-2000

231

 

231

SCF UK

1994-1996

18

 

18

2

Hải Phòng

JRC

1997-2005

1616

611

2227

ACTMANG

1994-2005

1202

 

1202

3

Ninh Bình

JRC

1997-2005

790

295

1093

4

Thanh Hoá

JRC

1997-2005

1245

440

1685

ACTMANG

1999-2000

147

 

147

SCF UK

1994-1996

275

 

275

5

Nghệ An

JRC

1997-2005

1096

10

1106

SCF UK

1991-1996

184

 

184

 

6

Hà Tĩnh

JRC

1998-2005

650

89

739

SCF UK

1991-1993

240

 

240

OXFAM UK&I

1991-1996

377

 

377

7

Thái Bình

DRC

1994-2005

3919

3289

7208

ACTMANG

1996-2005

431

 

431

TEPCO

2005-2006

50

 

50

8

Nam Định

DRC

1997-2005

2331

4238

6569

TEPCO

2004-2005

40

 

40

9

Bình Định

ACTMANG

2004-2006

65

 

65

10

Ninh Thuận

ACTMANG

2002-2004

52

 

52

11

Sóc Trăng

ACTMANG

2004-2005

51

 

52

MILIEV

1996-1999

95

 

95

12

Bến Tre

ACTMANG

1997

44

 

44

13

Cà Mâu

MILIEV

1996-1999

3647

 

3647

14

Cà Mau, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh

WB

2000-2005

3648

 

3648

Tổng cộng

24201

 

 

Nguồn: Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Tổ chức ACTMANG, Hồng 2002

Ghi chú: *: Diện tích RNM được trồng mới.

   **: Diện tích rừng ngập mặn trồng xen (trồng đa dạng các loài cây ngâp mặn như đước, nắm, bần) trên diện tích trồng mới.

ACTMANG: Tổ chức Hành động và phục hồi rừng ngập mặn, Nhật Bản

DRC: Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản; JRC: Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch

MILIEV: Dự án trồng rưng do Hà Lan tài trợ

OXFAM UK&I: Tổ chức Chống đói nghèo của Anh và Ireland

SCF UK: Quỹ Cứu trợ Nhi đồng Anh

TEPCO: Công ty nghiên cứu điện lực Nhật Bản

WB: Ngân hàng Thế giới

            Ở miền Nam, NOVIB giúp Cà Mâu, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh trồng 1000 ha và OXFAM Anh đã hỗ trợ tỉnh Trà Vinh trồng 600ha  (EJF, 2003).

2.3.5. Lý do của sự thành công trong việc trồng lại rừng

Sau một thời gian dài qua các thăng trầm của việc trồng RNM, trồng rồi bị phá, phá rồi lại trồng, đến nay chúng ta đã có một diện tích rừng trồng khá lớn : 96.876 ha chiếm 61,95% diện tích RNM (FIPI, 2001) đặc biệt là RNM do các NGO hỗ trợ phát triển tốt, ít bị chuyển đổi sang các mục đích kinh tế khác.

Có kết quả đó là do một số lý do chính :

Trước hết là do có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tài trợ và chính quyền; nhân dân địa phương thông qua những cam kết khá chặt chẽ của địa phương xin dự án.

Nguyên tắc xây dựng và hoạt động của dự án:

            Uỷ ban nhân dân huyện (đại điện là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch huyện) và hộ gia đình (đại diện là chủ hộ) ký một quyết định giao đất (2 hoặc 5 ha) cho hộ gia đình đó để trồng và bảo vệ rừng trong thời gian 10 năm.

            Tư vấn kỹ thuật của MERC đi khảo sát đất: diện tích, xác định loại cây trồng phù hợp, thời gian và kỹ thuật trồng cho từng loài cây cụ thể.

            Tư vấn kỹ thuật của MERC thiết kế kỹ thuật: mật độ cây trồng trên một diện tích; kỹ thuật trồng cây cụ thể; biện pháp chăm sóc, bảo vệ và tài chính; mua giống, vận chuyển, công trồng; nguyên tắc nghiệm thu cây trồng; diện tích trồng; tỷ lệ cây sống (đối với trang, đước: 85%; bần: 75%); tình trạng sinh trưởng của cây; chăm sóc bảo vệ cây; trả tiền: công khai, dân chủ, theo biên bản nghiệm thu.

            Mỗi xã có dự án đều thành lập 2 tổ bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ rừng 24 tiếng/ngày đêm. Tổ bảo vệ được trang bị: nhà bảo vệ để tránh mưa, bão và nghỉ ngơi; xuồng gắn máy để đi tuần tra khi  nước thuỷ triều lên; giày lội bùn, áo mưa, đèn pin, loa pin cầm tay, ống nhòm... Tổ bảo vệ phải làm tròn trách nhiệm thì mới được nhận đủ lương bảo vệ, nếu để rừng trồng bị xâm phạm do bất cứ nguyên nhân nào thì họ sẽ bị phạt vào tiền lương.

            Tất cả các bên liên quan cũng như thành viên của các hộ gia đình tham gia dự án đều được mời dự các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng rừng.

            Bên cạnh đó, hàng năm MERC còn tiến hành các nghiên cứu khoa học, đặc biệt chú trọng đến vấn đề kỹ thuật để góp phần nâng cao hiệu quả của dự án. Không những thế, MERC còn tổ chức hàng chục lớp tập huấn, tuyên truyền về lợi ích của rừng ngập mặn nhằm nâng cao nhận thức cho người dân ven biển, để họ tự giác góp sức cho phong trào trồng và bảo vệ rừng.

            Dự án cũng xử phạt nghiêm khắc đối với các cá nhân, đơn vị không thực hiên nghiêm chỉnh dự án (trồng rừng chất lượng xấu, không đảm bảo kỹ thuật, để rừng phá hoại...) bằng các biện pháp trừ tiền, giảm diện tích trồng thậm chí không tiếp tục trồng rừng ở những đơn vị đó trong những năm tiếp theo. Ví dụ diển hình là xã Nam Hưng (Tiền Hải - Thái Bình), năm 2000, do công tác bảo vệ rừng không tốt nên đến năm 2001, mặc dù xã còn nhiều diện tích có thể trồng rừng nhưng dự án đã không tiếp tục tiến hành.

            Để đảm bảo tính đa dạng sinh học và tránh rủi ro, từ năm 1997, rừng luôn được trồng xen giữa 3 loài cây trên cùng một diện tích: trang (Kandelia obovata), đâng (Rhizophora stylosa) và bần chua (Sonneratia caseolaris). Việc trồng xen được thiết kế mật độ và vị trí trồng cho từng loài, từng cây cụ thể để đảm bảo điều kiện thích nghi một cách tối đa cho cây sinh trưởng và phát triển.           

            Các đơn vị có dự án đều thành lập vườn ươm cây bần giống và ươm cây từ hạt để tự đảm bảo nguồn cung cấp cây giống: vườm ươm ở Nam Phú - huyện Tiền Hải - tỉnh Thái Bình, vườm ươm ở Giao Lạc - huyện Giao Thuỷ - tỉnh Nam Định, vườn ươm ở Nam Điền - huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định.

Cam kết duy trì và bảo vệ RNM từ 25-30 năm chỉ khi nào đất nâng cao, không còn ngập triều thì mới được sử dụng vào mục đích kinh tế khác.

Tổ bảo vệ của từng xã được nhận hỗ trợ về tài chính trong thời hạn 4 năm (từ sau khi trồng). Từ năm thứ 5 trở đi, chính quyền địa phương tự trang trải kinh phí và duy trì công tác bảo vệ. Cơ sở khoa học của thời hạn 4 năm là cây trang có thể cho trụ mầm và trụ mầm có thể tự tái sinh nếu cây mẹ chết.

            Khi kết thúc dự án, ban quản lý dự án sẽ bàn giao rừng cho chính quyền địa phương để tiếp tục quản lý lâu dài. Một số xã như Đông Hoàng (Tiền Hải), Thái Đô (Thái Thuỵ), chính quyền ở đó đã giao cho tổ bảo vệ một diện tích đầm nuôi tôm tạo nguồn thu nhập ổn định để họ chuyên tâm bảo vệ rừng.

            Trong văn kiện dự án (1994) đã nêu rõ sau thời gian từ 10 đến 15 năm (thời gian cụ thể tuỳ điều kiện cụ thể từng địa phương về diện tích rừng ngập mặn, tốc độ bồi lắng phù sa...) có thể chuyển đổi một phần (có thể là 1/4) diện tích rừng sang nuôi trồng thuỷ sản với điều kiện phải trồng bù diện tích rừng bị mất trên vùng bãi mới bồi trước biển. Cụ thể địa phương nào có dải rừng với chiều rộng (từ đê biển ra đến mép biển) từ 1,5 km trở lên thì có thể tiến hành việc này. Cơ sở khoa học của quyết định dựa trên kết quả nghiên cứu về biên độ sóng biển của Yoshihiro Mazda, 1997.

            Khi chuyển đổi đất có rừng ngập mặn sang nuôi trồng thuỷ sản phải tiến hành khảo sát, đánh giá tác động môi trường và lập quy hoạch chi tiết về vùng nuôi trồng thuỷ sản, vùng đệm và vùng bảo vệ nghiêm ngặt. Sau khi có khảo sát, quy hoạch tổng thể mới được triển khai.

            Phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương các cấp với các tổ chức quốc tế như Uỷ ban Sinh quyển và Con người MAB, UNESCO.v.v... để xây dựng vùng ven biển châu thổ sông Hồng thành khu sinh quyển đồng bằng sông Hồng trong đó có rừng ngập mặn.

Trong trường hợp đặc biệt địa phương muốn sử dụng RNM trồng vào mục đích khác thì phải trồng bù đủ diện tích bị mất.

Các cơ quan NGO sẽ hỗ trợ kinh phí cho MERC tổ chức tuyên truyền, giáo dục về vai trò RNM, sự cần thiết phải phục hồi, bảo vệ RNM cho nhiều đối tượng ở tất cả các xã vùng ven biển ở hai tỉnh Thái Bình – Nam Định có đề án trồng RNM (in tài liệu phổ biến, tổ chức tập huấn) cho nhiều đối tượng, thành lập câu lạc bộ "Em yêu RNM" tổ chức cho học sinh nghèo, giỏi, gia đình chính sách tham quan trạm MERS trong các dịp hè 2002-2005.

Các cơ quan tài trợ phối hợp với MERC tổ chức kiểm tra định kỳ về kết quả chăm sóc bảo vệ. Nếu địa phương thực hiện không tốt thì phải trồng bù.

Giao đất giao rừng cho một số hộ trồng hoặc một số đoàn thể có uy tín như Hội Phụ nữ, Hội Chữ thập đỏ quản lý và hưởng lợi từ các sản phẩm thuỷ sản hoặc tỉa thưa rừng.

Có sự phối hợp chặt chẽ giữa NGOs và MERC trong kế hoạch giúp đỡ kỹ thuật, kiểm tra công việc trồng, bảo vệ RNM. 

2.4. Hiệu quả của phục hồi RNM

Phục hồi thảm thực vật tự nhiên

            Tuy chỉ trồng lại có một loài cây, như đước (Rhizophora apiculata) ở Cần Giờ - TP Hồ Chí Minh những đã có tác dụng rất lớn trong việc phục hồi thảm thực vật. Sự phát triển hệ thống rễ của các loài cây trồng này đã cải thiện môi trường đất đồng thời là những “cái bẫy” để giữ hạt giống và trụ mầm của các loài cây ngập mặn khác do nước triều đem đến; các chất rơi rụng của cây được vi sinh vật phân huỷ tạo điều kiện thuận lợi cho các loài cây mới nhập cư sinh trưởng trong quần thể rừng trồng. Sự đa dạng hoá của các rừng trồng tương tự cũng gặp ở vùng RNM do SCF-UK hỗ trợ ở Thạch Hà, Hà Tĩnh. Một số loài cây tái sinh tự nhiên như mắm biển (Avicennia marina) đã vượt tán cây trồng, thu hút nhiều loài tảo và nhiều loài tôm cá đến sinh sống, kiếm ăn.

Từ năm 1997 đến nay, nhờ sự giúp đỡ của MERC, hầu hết các rừng trồng để bảo vệ đê ở 8 tỉnh phía Bắc do DRC và JRC tài trợ đã được trồng xen thêm một só loài cây khác như đâng, bần chua tạo thành rừng nhiều tầng có tác dụng chắn sóng, gió rất hiệu quả.

Tăng cường tài nguyên đa dạng sinh học

            Đi đôi với việc phục hồi thảm thực vật, số lượng các loài và cá thể động vật trên cạn và

dưới nước tăng nhanh nhờ có nơi sống mới thích hợp (ở trong bùn, trên bãi triều, trong nước và trên cây).

            Đặc biệt ở các vùng cửa sông Hồng và vùng Cửa Lò (Nghệ An) trong những năm gần đây, ngư dân đã đánh bắt được một loài cá rất quí đó lá cá thủ vàng (Sciaena sp.). Đây là loài cá đáy, thường vào các cửa sông có RNM mới trồng để kiếm mồi. Bong bóng của nó dùng để chế chỉ khâu. Loại chỉ này có thể tự tiêu và ít bị nhiễm trùng được sử dụng trong các ca mổ đặc biêt. Vì thế giá rất cao - bán tại Hồng Kông với giá từ 150 đến 350 triệu/con (Hồng và cs, 2000A).

Cải thiện cuộc sống của cộng đồng ven biển

            Việc phục hồi RNM đã có tác dụng rõ rệt đối với cuộc sống của cộng đồng ven biển, đặc biệt đối với những gia đình nghèo. Nhờ có đề án trồng RNM đã tạo việc làm cho một số gia đình (trồng, bảo vệ rừng), tăng thêm thu nhập do nguồn hải sản phát triển nhanh.

            Sau khi trồng lại rừng, nhiều loài hải sản đã đến sinh sống, kiếm ăn như cua, cá bớp, chúng đào hang trong RNM. Các loài vọp, ngán sống trong bùn quanh gốc các cây ngập mặn. Một số loài khác như ốc đĩa, hà bám vào cây. Đây là những hải sản có giá trị. Các loài tôm biển, cua sau khi nở đã từ biển, theo thuỷ triều vào sống trong RNM từ giai đoạn hậu ấu trùng cho đến khi trưởng thành mới bơi ra biển để đẻ.

            Từ năm 1997 đến nay, nhờ nguồn cua giống phong phú trong các RNM cửa sông mà đời sống của các hộ nghèo đã được cải thiện rõ rệt.

            Kết quả điều tra của Nguyễn Hữu Thọ và Phan Hồng Anh (2002) về nguồn lợi cua giống ở vùng RNM trồng ở 27 xã (mỗi xã 30 hộ) có RNM trồng ở hai tỉnh Thái Bình, Nam Định cho thấy nguồn lợi này khá lớn chiếm khoảng 16,1 đến 22,8% tổng thu nhập của các hộ (hình 13 và 14).

Phát triển nghề nuôi hải sản ven bờ

            Nhờ có các RNM phục hồi mà việc nuôi các loài thân mềm hai mảnh vỏ như sò huyết, ngao (nghêu), vạng phát triển mạnh nhờ nguồn thức ăn là mùn bã từ RNM được nước triều chuyển ra các bãi cát phía ngoài.

Có rất nhiều ví dụ ở các địa phương để minh họa :

Sau khi phục hồi RNM Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh; Thạnh Phú, Bến Tre, nghề nuôi sò huyết, nghêu và nuôi cua lồng, cá lồng ở các vùng này phát triển rất mạnh, tạo công ăn việc làm cho hàng vạn người nghèo.

Từ năm 1997 đến nay, nghề nuôi vạng ở ven biển các tỉnh đồng bằng sông Hồng phát triển mạnh đã tạo ra nghề mới cho nhiều người. Bình quân mỗi năm 1 ha có thể thu lãi 20-29 triệu/ha.

Nếu không có RNM thì nghề nuôi các loài thân mềm sẽ không tồn tại vì thiếu nguồn cung cấp mùn bã là thức ăn của chúng.

Bảo vệ môi trường

RNM phục hồi làm giảm tác hại của sóng gió

- Kết quả nghiên cứu của Mazda và cs (1997) tại RNM trồng ở xã Thuỵ Hải-Thái Thuỵ-Thái Bình cho thấy :

            + Nơi có RNM rộng 1,5km thì sóng cao từ 1m ở ngoài bãi trồng sẽ giảm còn 0,05m khi tới chân bờ đầm cua.

            + Nơi không có rừng thì cũng với khoảng cách đó, nhưng chiều cao của sóng ở chân bờ đầm là 0,75m và bờ đầm bị xói lở.

 

- Một số ví dụ khác: Trong năm 1996 bão đổ bộ vào vùng ven biển Thái Bình, nhờ có RNM mà các bờ đầm tôm, cua ở Thái Thuỵ không bị vỡ; còn ở Tiền Hải, hầu hết các bờ đầm tôm đều bị sạt lở hoặc vỡ do RNM bị phá để làm đầm.

 

Hộp 2. RNM và cơn bão số 6, 7 năm 2005

Tác dụng bảo vệ đê của các dải RNM trong những cơn bão lớn năm 2005

Trong 2 tháng 8 và 9/2005 vùng ven biển miền Bắc Việt Nam phải hứng chịu 3 cơn bão rất mạnh (sức gió cấp 10-12). Những nơi nào không có RNM phòng hộ thì nhiều đoạn đê bị xói lở sâu, các đê có mái bê tông, xây đá hộc hoặc có kè cũng bị sóng phá vỡ, thiệt hại về tài sản rất lớn, một số người chết hoặc mất tích. Trái lại những nơi có các dải RNM trồng còn sót lại của chương trình 327, đặc biệt là những dải rừng do Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch và Nhật Bản hỗ trợ từ 1994 đến nay thì dù đê không được bê tông hoá vẫn không bị tác hại.

Trong Hội nghị tổng kết dự án trồng RNM phòng ngừa thảm hoạ của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (tháng 3/2006) tất cả các báo cáo của 8 tỉnh có dự án đều đánh giá rất cao, tác dụng của RNM trong việc bảo vệ đê biển trong các cơn bão số 2, số 6 và số 7 năm 2005 và đề nghị với Nhà nước phải quan tâm hơn đến việc bảo vệ và trồng RNM.

 

Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, du lịch sinh thái

Nhờ phục hồi và bảo vệ tốt RNM mà Việt Nam đã có Khu Dự trữ Sinh quyển RNM Cần Giờ, được UNESCO/MAB công nhận và được quốc tế và Việt Nam đầu tư để bảo vệ, phát triển. RNM ở Thạnh Phú - Bến Tre được chính phủ công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên.

Sau khi phục hồi RNM Cần Giờ, việc nghiên cứu, đào tạo cán bộ có trình độ cao được phát triển (3 tiến sĩ, 4 thạc sĩ). Sự hợp tác giữa các nhà khoa học nước ngoài và Việt Nam được đẩy mạnh (các đề án EU, Nhật Bản, LB Đức). Vốn đầu tư vào du lịch sinh thái tăng mạnh thu hút nhiều khách du lịch quốc tế và trong nước, đặc biệt là học sinh, sinh viên.

2.5. Các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo vệ và phục hồi RNM ven biển

2.5.1. Trồng cây trong vùng RNM

a. Cây trồng trên đất bồi để lấn biển

            Trong điều kiện tự nhiên, trên các bãi bồi có độ mặn không quá thấp (10‰-15‰) vào mùa mưa thì mắm trắngbần trắng là các loài cây tiên phong, cố định bãi lầy, như ở cửa sông hình phễu sông Đồng Nai, ven biển Ba Tri-Bến Tre. Nơi có độ mặn thấp hơn thì ô rôbần chua là cây tiên phong (các cửa sông châu thổ có nước lợ). Cũng có chỗ mắm mọc lẫn với ô rô. Những loài cây tiên phong có khả năng thích nghi cao với độ ngập sâu, thời gian kéo dài, độ mặn cao và đất bùn lỏng nhờ cấu trúc đặc biệt của rễ hô hấp và rễ dưới đất thu nhận và dữ trữ được nhiều ô xy chịu ngập trong thời gian dài; có tuyến tiết muối ở lá (như mắm, ô rô) hoặc tập trung muối vào lá già.

            Để đẩy mạnh tốc độ lấn biển, cần trồng thêm cây con ra hướng biển để tạo điều kiện cho đất bồi nhanh.

b. Cây trồng trên đất ngập triều định kỳ ngày hoặc tháng

            Khi cây tiên phong được một tuổi và đất đã bồi cao lên chỉ ngập triều trung bình thì đem trụ mầm già các loài cây có giá trị cao của chi đước, chi vẹt, chi  già, loài trang trồng xen với các cây tự nhiên. Việc trồng  xen đước, vẹt, trang vào thảm thực vật tiên phong đem lại hiệu quả cao hơn là trồng ở các bãi bồi chưa có cây, vì cây tự nhiên có tác dụng cản sóng, gió cho cây trồng trong giai đoạn mới bén rễ, nhất là thời kỳ có gió chướng, hạn chế tác hại của hà sun.

            Vào cuối thập kỷ 70, một số vùng ven biển như Ngọc Hiển- Minh Hải, Long Phú- Sóc Trăng trồng đước trên bãi bồi ven biển đã bị sóng cuốn gần hết, số còn lại bị hà sun bám và chết dần. Trong lúc đó ở lâm trường Thạnh Phú-Bến Tre nhờ trồng xen trong dải cây tự nhiên là mắmô rô nên cây sinh trưởng tốt.

            Ở các rừng ngập mặn thứ sinh đang thoái hóa mà đất còn ngập triều định kỳ trong tháng thì không nên trồng đước, vì trên đất ngập triều không đều, đất có nhiều bùn, rắn, đước sinh trưởng rất chậm.

            Loại đất này phù hợp với sự sinh trưởng của nhiều loại cây ngập mặn khác như dà vôi, giá, xu ổi, xu MêKông; cóc vàng, quao nước.

            Trên đất cao hơn, chỉ ngập trong thời gian triều cường, hoặc nước triều lên bề mặt thì trồng một số loài cây tham gia RNM như: tra, tra lâm vồ, mớp sát, cui biển, bánh dày. Thường trên loại đất này có chà là phát triển thành đám. Cần chặt hết chà là và hàng năm đốt gốc để chúng không cạnh tranh với cây trồng, mặt khác cần loại bỏ ráng và các dây leo thuộc họ Thiên Lý: như thiên lý dại, dây mủ chúng thường bò lan rất nhanh, hoặc leo lên cây trồng, cạnh tranh ánh sáng làm cho cây trồng sinh trưởng chậm

c. Cây trồng trên đất ít khi ngập triều hoặc chỉ ngập khi triều cường

            Đất đã khai thác trắng rừng 3 - 6 năm trước, ít khi bị ngập triều là loại đất đang trên quá trình thoái hóa thành đất sulphát axít. ở những nơi gần sông, rạch, đất ngấm nước triều thì 1 số loài CNM hoặc chịu mặn như chà là, ráng tái sinh và phát triển rất nhanh trong mùa mưa.

            Muốn phục hồi rừng hoặc lục hóa vùng đó, cần đầu tư để dọn rừng vào mùa khô bằng cách chặt hết các loài cây trên, gom lại để đốt. Trong điều kiện cần thiết phải đào gốc hoặc tiếp tục chặt mầm của chà là khi chúng mọc lên. Trước khi trồng cần kiểm tra độ chua của đất, nếu pH < 5 thì phải bón vôi vào hố trước khi trồng. Sau 1 năm cần làm cỏ, cắt hết dây leo, và nếu có điều kiện tiếp tục bón vôi và phân chuồng hoặc phân hóa học như đạm, lân, ka li.

            Kinh nghiệm của một số gia đình ở Nam Bộ cho thấy nếu đào mương để xả phèn thì đất sẽ giảm chua nhanh hơn và cây trồng sinh trưởng tốt hơn.

2.5.2. Làm vườn ươm cây ngập mặn

a. Tác dụng của việc làm vườn ươm cây

1. Chủ động thời gian thích hợp để đưa cây con đi trồng, hạn chế được tác hại của sóng gió lớn. Nếu trồng cây con trước khi có gió mạnh 3-4 tháng thì ít khi bị gió làm bật rễ  vì hệ rễ của CNM phát triển nhanh và rộng.

2. Không bị hà sun bám khi cây còn quá non (trụ mầm). Sau một thời gian dài ở vườn ươm, cây con đã cứng cáp, đủ sức chống lại tác hại của hà sun và sẽ sinh trưởng nhanh.

3. Khi triều cao, thuyền bè qua lại, cây mới trồng có bầu khỏe, nặng nên ít bị nhổ lên.

4. ở những nơi đất bồi nhanh cây ít bị vùi lấp vì thân đã cao, sinh trưởng mạnh hơn là trồng trực tiếp.

5. Tỷ lệ sống cao (thường 80-90%)  đỡ công và tiền trồng dặm.

6. Những vùng gần bờ biển bị xói lở trồng cây con trong bầu với mật độ cao trước mùa bão 2- 5 tháng có thể hạn chế xói lở. Ngược lại khi đã tạo được một hàng rào xanh thì rễ, thân cây sẽ giữ phù sa, tán cây làm giảm cường độ của sóng..

7. Cây con ít khi bị các loại còng phá hại vì thân đã khá cứng không như trụ mầm trồng trực tiếp.

8. Chủ động bổ sung nguồn giống để trồng dặm, trồng xen vào nơi cây con chết ngay từ năm đầu  giúp cho cây sinh trưởng đồng đều.

 Đối với các loại cây trồng bằng hạt như bần, cóc, giá, xu, nếu gieo trực tiếp trên bãi thường bị thủy triều và sóng cuốn đi, nên tỷ lệ sống rất thấp. Làm vườn ươm tỷ lệ sống cao hơn nhiều. Mặt khác có thể chủ động nguồn giống vì thường các hạt khi nẩy mầm trên bãi rất dễ bị các động vật như cua, còng, cá, thân mềm, chim... ăn, đặc biệt là bần. ở những nơi nhân dân nuôi vịt thì rất khó kiếm cây bần con tái sinh.

Tất nhiên kinh phí trồng cây qua vườn ươm sẽ cao hơn trồng trực tiếp. Do đó tùy theo điều kiện cụ thể mà kết hợp cả hai cách.

b. Một số kỹ thuật làm vườn ươm

Chọn địa điểm thích hợp.  Các CNM sinh trưởng nhanh khi gieo hạt hoặc cắm trụ mầm ở nơi bãi lầy nhiều bùn, có thủy triều lên xuống đều hàng ngày (hình 28). Tuy nhiên nếu làm vườn ươm ở sát cửa sông, ven biển thường thất bại vì.

            - Sóng và thủy triều sẽ cuốn hạt và trụ mầm đi.

            - Vào thời kỳ có gió mùa đông bắc, gió và dòng triều sẽ đưa các loài tảo phủ lên vườn ươm, cây con không mọc được.

- Phù sa có thể bồi nhanh, lấp mất các loài cây hoặc phủ bùn dày đặc trên luống.

            - Khi hạt nảy mầm dễ bị cua, còng, cáy ăn  (lúc triều cạn), hoặc cá nhỏ ăn (lúc triều lên).

            - Mùa khô nước biển mặn nhiều sẽ ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cây con nhất là bần chua.

 

Text Box: Hình 16. Một số vườn ươm cây ngập mặn (Ảnh: Phan Nguyên Hồng)
Vườn ươm cây đâng ở Yên Hưng – Quảng Ninh
Vườn ươm cây đước ở Cần Giờ
Vườn ươm cây đưng ở Salun – Thái Lan
Vườn ươm cây bần chua ở Tiên Lãng – Hải Phòng

 

            Do đó tốt nhất là làm vườn ươm ở chỗ tương đối lặng sóng, ít hang còng, cáy, hàng ngày có thể dẫn nước triều ra vào vườn bằng cách đào, hoặc tận dụng kênh nhỏ. ở Thái Bình, Hải Phòng và Nam Định làm vườn ươm cây bần chua trên ruộng 1 vụ lúa, gần kênh mương đã cho kết quả cao.

Diện tích của vườn ươm từ 0,5-1 ha.

Vườn ươm, cần có bờ bao để giữ nước, có cống đơn giản để dẫn nước triều ra vào hàng ngày. Cần có hàng rào để ngăn vịt, gà, trâu, bò phá hại cây con. Cần tính toán và chọn địa điểm thuận tiện cho việc vận chuyển cây con đến nơi trồng.

            Ở Thái Lan, người ta tận dụng mặt đất dưới tán lá rừng mắm, xu, đước, chỉ ngập khi triều cao làm các luống ươm cây. ở các điểm này có thuận lợi là ít sóng, không phải làm dàn che, nhưng nhiều cua, còng, và chỉ có thể làm luống để giữ cây trong túi bầu, nếu gieo thẳng thì cây con sẽ bị cây lớn tranh dành thức ăn nên sinh  trưởng chậm.

Làm đất. Tốt nhất là sử dụng các bãi lầy còn ngập triều, có cỏ, sau đó cày lật và bừa, nhặt cho hết cỏ. Nếu vườn ươm ở trên đất  rừng cũ cần nhặt hết cành và gốc cây chết, rồi mới cày bừa và bón phân bò hoặc phân gia súc nhỏ.

            Đất đã cày bừa kỹ thì lên luống. Luống thường dài 12m, rộng 1,2 m khoảng cách giữa các luống là 0,3 - 0,5m, rãnh sâu hơn mặt luống 20cm -30cm để dẫn nước vào ra cho thuận lợi (Siddiqui, 1993).

Các rãnh hơi nghiêng về phía kênh nước để khi triều thấp nước không đọng lại trong vườn ươm. Nếu hàng ngày nước triều không vào được thì phải tưới.

Gieo hạt. Tùy theo loài cây mà có thể, gieo hạt thẳng trên mặt luống (bần chua, bần ổi, mắm, giá, cóc...) ngay sau khi lên luống vào thời gian triều thấp, trên mặt luống không có nước, mặt bùn không quá lỏng. (Đối với hạt bần chua khi gieo hạt cần đảm bảo một nửa hạt chìm xuống bùn, nửa còn lại nổi trên mặt bùn; nếu hạt chìm hẳn dưới bùn, không tiếp xúc được với ánh sáng khó nẩy mầm; ngược lại hạt nằm nổi hoàn toàn trên bùn sẽ dễ bị hỏng), không cho nước triều tràn qua ít nhất là 72 giờ để hạt không bị trôi mất. Do đó nên chọn thời kỳ nước kém để gieo hạt là tốt nhất.

 Chăm sóc vườn ươm. Vườn ươm sau khi gieo hạt cần chú ý nhổ cỏ nếu cỏ mọc, vớt rêu, tảo nếu chúng xuất hiện. Mặt khác cần kiểm tra xem cây con có bị còng, cáy hoặc cá con ăn không. Nếu nhiều cáy, còng ăn cây nên dùng lưới mắt nhỏ rào quanh sát mép bờ vườn ươm. Để tránh cá nhỏ ăn cây con nên dùng lưới mắt nhỏ để chắn ngang miệng cống lấy nước vào. Nếu còng đào hang trên mặt luống thì phải tổ chức bắt chúng hoặc dùng que nhỏ chọc chết .

            Khi gieo hạt vào mùa đông ở miền Bắc cần quan tâm chống rét cho cây con nhất là bần chua, bằng cách giữ một lượng nước thích hợp (nước phủ kín mặt luống nhưng không ngập hết cây con) vào thời gian đêm và sáng sớm, hoặc làm dàn, phủ ni lon mỏng kín toàn bộ mặt luống trong thời gian rét nhất, vừa tránh rét cho cây con vừa tránh được sương muối. Khi cây con bị sương muối có thể bị rụng lá, cần  tưới bằng nước ngọt vào các buổi sáng sớm.

Chuyển cây con đi trồng. Sau một thời gian giữ và chăm sóc cây con trong vườn ươm (5-10 tháng) tùy theo loài cây, tùy điều kiện thời tiết, nước thủy triều mà đem cây đi trồng.

            Nên bứng cây con, giữ nguyên đất ở xung quanh bầu rễ để đem đi trồng. Dùng xẻng có kích thước nhỏ để bứng cây con đảm bảo được tỷ lệ sống cao.

            Nếu không muốn giữ đất ở xung quanh bầu rễ cây thì trước khi bứng cây con, cần giữ nước trong vườn ươm (nước ngập 1/3 thân cây) trong 3 ngày để đất trong vườn  ươm mềm ra khi bứng cây ít bị đứt rễ. Có thể trồng cây bằng rễ trần, nhưng tỷ lệ sẽ không cao.

Ươm cây trong túi bầu Dùng túi polyethylen dày có kích thước 10 x 20 cm. Đất sau khi cày, bừa kỹ có trộn với phân trâu, bò ủ hoai (theo tỷ lệ 1phân/5đất) được cho đầy vào các túi (đất bùn phải đầy tới mép túi, để tránh đọng nước trong túi khi triều xuống). Các túi đất được xếp đứng, xít lại với nhau (có thể dùng tre hoặc gỗ làm rào khung để xếp túi). Đất bùn trong túi cần đảm bảo độ mềm và lỏng vừa phải để khi gieo hạt (2-3 hạt/túi) đảm bảo hạt nửa chìm, nửa nổi. Khi hạt đã nẩy mầm thì chỉ nên để 1 cây con khỏe đẹp nhất trong 1 bầu. Việc này cần làm sớm (sau 1 - 2 tuần gieo hạt) nếu để cây con lên cao 5 - 10 cm khi nhổ bớt 1 cây sẽ làm ảnh hưởng đến cây còn lại. Những túi hạt không nảy mầm, cần dùng que xới lại đất và gieo hạt bổ sung ngay sau 1 tuần. Cây ươm trong bầu cũng cần được chăm sóc và bảo vệ như gieo thẳng trên luống. Nhưng sau 30-40 ngày cần kiểm tra nếu rễ cây đâm ra bên ngoài bầu thì cần chuyển dịch vị trí của bầu để tránh rễ đâm ra, ăn xuống mặt luống.

            Trồng cây ươm trong bầu cần đào lỗ (có kích thước tương đối với  túi bầu) và xé túi bầu để cho rễ đâm vào đất bãi trồng dễ dàng. Trồng cây ươm trong bầu tỷ lệ sống cao (trên 90%). Tuy nhiên phương pháp này khá tốn kém và nếu không đảm bảo đúng kỹ thuật gieo hạt, độ ẩm của đất trong bầu thì tỷ lệ hạt nẩy mầm thấp.

2.5.3. Chăm sóc rừng trồng

a. Phòng trừ sinh vật gây hại  cây trồng

            Cơ thể của các loài CNM  giàu chất dinh dưỡng, là nguồn thức ăn phong phú và hấp dẫn đối với nhiều động vật, nhất là các cây còn non. Do đó cần quan tâm chăm sóc và theo dõi các động vật phá hoại để bảo vệ tốt cây trồng.

            - Hà và màn cước: Hà phát triển mạnh ở các bãi lầy đang bồi ven biển, cửa sông. Cây ngập mặn là giá thế tốt cho chúng bám, nhất là giao thời giữa mùa mưa và mùa khô.

            Hầu hết các rừng trang mới trồng bảo vệ đê ở các tỉnh phía bắc đều bị màn cước và hà bám gần kín hết thân, do đó mà cây sinh trưởng rất chậm, một số sống còi cọc và chết dần.

            Cho đến nay ở trên thế giới cũng như ở nước ta chưa có biện pháp nào hữu hiệu để chống hà. Các nhà khoa học và quản lý cần nghiên cứu để hạn chế tác hại. Kinh nghiệm của nhân dân Uông Bí là dùng thuốc trừ sâu gói trong vải mỏng, dấp nước và đập vào thân có hà bám vào thời gian nước triều ròng thì sau vài ngày số hà sẽ chết dần. Tuy nhiên cách làm này cũng chỉ có kết quả trong một thời gian ngắn.

            Khi cả dải rừng bị hà bám thì có thể tạm thời dùng thuốc trừ sâu phun cẩn thận lên thân cây vào thời gian nước kém (mỗi tháng có 2 lần nước kém bãi triều không ngập 2-3 ngày/ lần). Không để thuốc vương vãi ra xung quanh làm chết ốc, sò, còng ở trên bãi lầy và ô nhiễm môi trường.

Ở một số địa phương dùng vỏ “hạt ” đào lộn hột xay nhỏ, trộn với thịt “quả” xong lọc lấy nước trộn với sơn quét vào mạn tàu, hà không bám, nên thử áp dụng với cây ngập mặn.

Có nơi dùng thuốc lào khô ngâm trong nước 1 ngày đêm, sau quét vào vỏ cây để trừ các loài ốc phá hoại.

Cần nghiên cứu và thực nghiệm các loại thuốc có nguồn gốc thực vật để trừ hà sun bám vào cây, nhưng cần kiểm tra cẩn thận xem chúng có gây hại đối với các động vật đáy và môi trường không trước khi sử dụng rộng rãi.

            Biện pháp có hiệu quả hơn là trồng xen nhiều loại cây khác nhau. Qua nhiều năm quan sát chúng tôi thấy hà thường tập trung vào 1 loài cây trong quần xã. Ví dụ ở đảo Đồng Rui - Tiên Yên, Quảng Ninh hà thường bám dày đặc trên gốc cây sú, còn trang và vẹt dù ít bị hà bám, còn ở Hải Phòng khi trồng bần xen với trang thì hà bám thân trang và ít bám thân bần. Khi cây trồng được 3-4 tuổi thì tác hại của hà không còn đáng lo ngại nữa.

            - Sâu cắn lá: Có nhiều loài sâu ăn lá CNM chủ yếu là các loại thuộc bộ Cánh cứng, bộ Cánh vảy và bộ Hai cánh (Murphy và cs, 1990). Thường sâu xuất hiện vào  đầu hoặc cuối mùa mưa lúc cây có nhiều lá non, phổ biến là các sâu làm kén thuộc bộ Cánh vảy (bướm). Trên lá đước sâu kén ăn lá tạo ra những đốm màu nâu, lá vàng và rụng hoặc sâu cuốn các lá làm tổ.

            Do chưa quan tâm hoặc ít chú ý theo dõi rừng trồng nên có thể có thời gian sâu đã phá trụi lá rừng trang trồng ở Thạch Châu - Thạch Hà (1994) và Kỳ Hà, Kỳ Anh (1996) tỉnh Hà Tĩnh.

            Để hạn chế bớt tác hại của sâu bệnh cần theo dõi cây trồng, khi sâu bắt đầu xuất hiện phải vận động nhân dân, học sinh bắt sâu bằng các phương tiện thủ công và bẫy sâu bằng ánh sáng đèn vào ban đêm.

            - Đặc biệt ở các vườn ươm, sâu đục thân (Poecilips fallax) phá hoại cây con rất mạnh. Năm 1996 ở tại vườn ươm các loại vẹt, trang ở Kỳ Thư - Kỳ Anh, Hà Tĩnh, sâu đục thân đã phá hủy 1/3 số lượng cây trong bầu. Do đó cần quan tâm đến diệt trừ. Khi phát hiện là phải loại bỏ hoặc dùng kim nhọn chọc cho sâu non chết. Thân cây nào rỗng ruột phải loại bỏ.

            - Còng, cáy cũng ăn các trụ mầm mới rụng hoặc mới trồng. Do đó cần có cây con dự trữ để trồng dặm ngay. Theo tài liệu hướng dẫn quản lý RNM của FAO (1994) thì phương pháp rẻ nhất là giữ trụ mầm vài tuần, trong chỗ dâm mát trước khi trồng chúng sẽ ít hấp dẫn còng, cáy hơn.

            - Khỉ cũng là động vật ăn lá và trụ mầm một số loài CNM. Do đó  khi khỉ phát triển thành đàn lớn như ở Lâm Viên  Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh cần phân tán chúng đến những khu RNM  khác để giảm bớt tác hại.

            - Gia súc như trâu, bò, dê cũng rất thích ăn lá cây ngập mặn, cần giáo dục, ngăn chặn trẻ em thả gia súc trong vùng RNM.

            Gần đây do việc khai thác kiệt rắn ở vùng nông thôn ven biển, nên chuột phát triển mạnh, không những phá hoại cây nông nghiệp mà chúng còn ăn cả CNM mới trồng. ở xã Kỳ Hưng - Kỳ Anh, Hà Tĩnh trong năm 1997 chuột đã phá hủy hơn 10 ha RNM.

            Ngoài các động vật phá hoại, CNM còn bị tảo biển bám. Vào thời kỳ gió mùa đông bắc, tảo từ biển được đưa vào các bãi lầy ở biển, chân đê và bám vào cây ngập mặn mới trồng hoặc còn non làm cho lá không quang hợp được, có khi làm cho cây con uốn cong và lấp trong bùn. Do đó trước khi trồng rừng phải vớt hết rong tảo trên bãi, thu gom và đào hố để ủ tảo làm phân xanh bón cho cây trồng. Khi có tảo bám vào cây con phải gỡ hết tảo.

            Ở những vùng đất cao sau khi khai thác trồng cây mới thì ráng (Acrostichum aureum) phát triển nhanh, do đó cần phải đào hết gốc ráng để cây con sinh trưởng tốt.

            Một tác nhân gây hại RNM khác là con người. Nếu không tuyên truyền, giáo dục cho người dân ven biển về tác dụng nhiều mặt của RNM thì họ sẽ vì lợi ích cá nhân mà vô tình hay hữu ý phá rừng trồng còn non bằng các dụng cụ đánh bắt cua, cá, hoặc cho tàu thuyền đi qua RNM mới trồng làm cho cây bật gốc và trôi mất (hình 8.5).

            Nói chung việc chăm sóc RNM rất cần thiết. Chúng ta chưa có biện pháp để trừ bỏ các động vật, thực vật gây hại. Do đó trước khi trồng cần chọn giống tốt, khỏe để cây sinh trưởng nhanh, hạn chế tác hại của những sinh vật, mặt khác phải thường xuyên theo dõi cây trồng, khi bắt đầu có dấu hiệu bất lợi là tìm cách bắt, diệt, tránh để tình trạng vật gây hại thành dịch.

b. Tỉa thưa rừng trồng

            Sau một thời gian trồng, cây sinh trưởng và tạo tán, lúc đó sự cạnh tranh về ánh sáng xảy ra mạnh mẽ. Vì vậy khi trồng cần tính toán mật độ và khoảng cách trồng cho thích hợp để tránh tình trạng cây quá dày, tốc độ sinh trưởng chậm hoặc cây quá thưa không có tác dụng bảo vệ đất.

Sau 2 - 3 năm, nếu cây đã khép tán cần chặt bớt cành. Tùy theo loài cây và qui cách rừng trồng phòng hộ hay rừng sản xuất mà xác định thời gian tỉa cành. Sau khi trồng một số năm, cây khép tán, các tầng thấp thiếu ánh sáng, đồng thời rễ cây cũng phát triển rộng. Do đó cần tỉa thưa bớt cây hoặc nếu cây nhiều thân thì chặt bớt, chỉ giữ lại một (hoặc 2) thên để giảm bớt sự cạnh tranh về thức ăn và ánh sáng; mặt khác tạo điều kiện cho các động vật sống trên bãi lầy trong rừng phát triển bình thường.

 

Cần chú ý khi tỉa thưa lá cây rụng nhiều, cần gom lá cây lại một chỗ, nếu không lá sẽ bị phân hủy yếm khí tạo ra nhiều chất độc gây hại cho động vật và cây còn lại.

            Ở Matang - Malaysia, tỉa thưa hai lần khi rừng đước 15 tuổi và 20 tuổi. Lần tỉa thưa thứ nhất để lại mỗi ha: 6.944 cây (khoảng cách 0,7 x 0,7 m ), lần thứ hai tỉa thưa giữ lại 3.086 cây/ha (FAO, 1996). ở Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh, đất trên rừng bị rải CDC trồng với khoảng cách 1m x 1m, tỉa thưa lần thứ nhất khi cây 5 - 6 tuổi, lần thứ hai ở tuổi 10 - 12 và sau đó giữ rừng phòng hộ. Chỉ tỉa cành và làm vệ sinh rừng. ở Cà Mâu cũng tiến hành tỉa thưa 2 lần, lần thứ nhất vào tuổi thứ 7 và lần thứ hai lúc cây được 12-14 tuổi. Sau 20 năm thì khai thác.

 

III. Các mối đe doạ chính đối với rừng ngập mặn ven biển

            Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng trong nền kinh tế xã hội và môi trường, nhưng nhiều nhà quản lý, nhà qui hoạch và hoạch định chính sách vẫn chưa hiểu hết giá trị nhiều mặt của nó, nên bằng cách này hay cách khác  như cho đấu thầu đất làm đầm tôm, thiếu kiên quyết xử lý các vụ phá hoại, phát triển các khu công nghiệp, đô thị trên vùng rừng ngập mặn... gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với hệ sinh thái có năng suất cao nhưng rất nhạy cảm này.

            Những mối đe doạ đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn rất đa dạng và phức tạp gồm cả các yếu tố tự nhiên và con người.

            Bão lụt, sóng thần, nước biển dâng là những đe doạ bất thường, song cũng chỉ xẩy ra từng thời điểm, từng vị trí và mức độ đe doạ nhiều hay ít còn phụ thuộc vào không gian phân bố của thảm thực vật ngập mặn, thành phần, tuổi cây...

            Còn tác động của con người, nhất là trong thời kỳ phát triển kinh tế đã trở thành những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự biến đổi, làm mất cân bằng và suy thoái của hệ sinh thái rừng ngập mặn, làm giảm đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật ven bờ nơi mà dân cư tập trung đông đúc. Chính vì vậy, con người đã trở thành mối đe doạ lớn nhất khi hành động của họ nhằm đạt được lợi ích trước mắt hoặc cục bộ.

3.1. Sức ép về dân số

            Do tính đặc thù của vùng địa lý bị chia cắt bởi các sông và kênh rạch, nên thường những cộng đồng sống trong vùng rừng ngập mặn (RNM) không có điện, phương tiện giao thông khó khăn; các hoạt động tinh thần, văn hoá, thông tin rất hạn chế; thanh niên lập gia đình sớm, tỷ lệ sinh đẻ cao; ít hiểu biết về môi trường; địa bàn xa cơ quan quản lý nên việc chặt phá RNM là khó tránh khỏi nếu không có biện pháp cải thiện cuộc sống của họ và tuyên truyền giáo dục kịp thời.

3.2. Khai thác quá mức nguồn lợi sinh vật

3.2.1. Lâm sản

            Trong những năm gần đây, mặc dầu RNM đã bị suy thoái nghiêm trọng, diện tích thu hẹp nhưng một số lâm trường (Cà Mâu) vẫn tiếp tục khai thác, nhiều gia đình ở Ngọc Hiển vẫn chặt trộm gỗ đước để đốt than.

3.2.2. Hải sản

            Bên cạnh việc phá rừng vì các mục đích kinh tế thì việc khai thác hải sản quá mức trên các bãi lầy như đánh bắt cá bớp, cá thòi lòi, cua, còng, các loài thân mềm .v.v... khiến cho tài nguyên cạn kiệt, mất nơi kiếm ăn của chim nước, chim di cư trong đó có những loài quí, hiếm. Việc sử dụng các lưới vây mắt nhỏ quanh các RNM trồng, sử dụng xung điện, chất nổ trên các sông rạch đã làm cho nguồn lợi hải sản trong vùng RNM cạn kiệt. Cũng cần nói thêm là do chạy theo lợi nhuận trước mắt, không có qui hoạch tổng thể để phát triển sản xuất ở vùng ven biển nên nhiều địa phương đã và đang cho đấu thầu những diện tích lớn bãi triều lầy có RNM để làm đầm tôm; đấu thầu các bãi cát - bùn trước RNM để nuôi vạng, nghêu; thu hẹp nơi kiếm sống hàng ngày của người dân nghèo nên bắt buộc họ phải dùng một số dụng cụ có tính huỷ diệt để đánh bắt hải sản.

 

Hộp 3. Dùng bẫy tre đánh bắt huỷ diệt cá lác (thòi loi)

Text Box: Hình 20. Đánh bắt cá thoi loi ở vùng bãi triều RNM 
(Ảnh: Phan Nguyên Hồng)
Ở vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ, có tập quán dùng bẫy tre để bẫy cá thòi loi (Periopthalmus cantonensis) ở trên các bãi triều lầy trước RNM. Hàng ngày, buổi sáng, lúc nước triều rút hết, thì cá rời bỏ hang, bò lên mặt bãi triều kiếm ăn. Người ta đặt bẫy trên cửa hang và cá bị chẹt ngang cổ. Mỗi người có trên dưới 100 bẫy, sử dụng liên tục cho tới khi nước triều ngập bãi.

Bằng cách tận thu triệt để chỉ sau một thời gian, phần lớn cá thòi loi ở các bãi triều RNM đã bị bắt hết.

 

3.2.3. Chim di cư

            Mặc dầu một số tổ chức quốc tế như Tổ chức bảo vệ chim quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới đã cho xuất bản một số tài liệu về các động vật quí hiếm, các chim di cư cần bảo vệ, nhưng do các địa phương ven biển chưa quan tâm đúng mức, hoặc chưa quản lý nên tình trạng săn bắn trộm, dùng lưới để bẫy chim di cư, chim nước ở các vùng có RNM khá phổ biến. Đây là mối đe doạ lớn đối với các động vật quí hiếm của thế giới. Cần có biện pháp kịp thời để ngăn chặn.

3.3. Gây ô nhiễm môi trường

RNM ở các vùng cửa sông, ven biển là nơi hứng chịu các chất thải sinh hoạt, y tế, các chất hoá học dư thừa trong nông nghiệp như thuốc trừ sâu, phân hoá học. Phần lớn các chất thải công nghiệp chưa xử lý đều được đổ ra các cửa sông như khu công nghiệp Biên Hoà đổ ra các cửa sông Sài Gòn và Đồng Nai, khu công nghiệp Hải Phòng - Quảng Ninh đổ ra cửa sông Bạch Đằng làm giảm chất lượng nước, ảnh hưởng xấu đến các tài nguyên động thực vật vùng RNM.

Các vùng cửa sông cũng là nơi hoạt động của  tàu bè. Theo số liệu thống kê của Cục Môi trường (2002), từ năm 1995 đến tháng 6/2002 có 90 tai nạn tràn dầu với 92.420 tấn dầu tràn đổ ra vùng ven bờ và biển Đông. Nạn dầu tràn, đắm tàu, chở dầu ở khu vực RNM Cần Giờ đã làm cho một số rừng mới trồng chết, các bãi nuôi nghêu, sò huyết thiệt hại nặng. Nếu không có biện pháp quản lý tốt thì sẽ làm mất nguồn hải sản ở các vùng RNM và ảnh hưởng rõ rệt đến cuộc sống của người dân trong vùng.

            Theo Phạm Văn Ninh (chủ biên, 1996) hàng năm nguồn chất thải chuyển qua một số sông chính ở miền Bắc như sau: đồng 2816 tấn, chì 730 tấn, cacdimi 118 tấn, kẽm 2015 tấn, cacbon 254 tấn, niken 142 tấn, asenic 448 tấn, thuỷ ngân 122 tấn, photphat 14860 tấn, nitrat 24602 tấn, amôn 352 tấn và DDT 400 tấn. Những kim loại nặng và các hợp chất độc hại này có ảnh hưởng lớn đến các sinh vật trong HSTRNM, khi con người ăn các động vật này cũng bị nhiễm độc.

Ô nhiễm đất

            Việc chặt phá bừa bãi RNM ở một số địa phương cũng như việc phá RNM để sản xuất nông nghiệp, làm đầm nuôi tôm quảng canh đã biến loại đất mặn giàu chất dinh dưỡng thành đất phèn mặn (acid sulphat soil).

            Trong đất ngập mặn giàu chất hữu cơ nhưng cũng giàu pirit (Fe2S). Khi mất lớp thực vật che phủ, bị phơi ra ngoài không khí, dưới tác động của nhiệt độ cao vào mùa khô, pirit bị oxy hoá thành dạng axit sulphuric (H2SO4). Axit này sẽ có tác dụng giải phóng các ion nhôm và sắt, có độc tính cao đối với thực vật. Trong điều kiện đó, phốtpho sẽ bị kết tủa dưới dạng phốtphat sắt và phốtphat nhôm không hoà tan, cây không hấp thụ được. Ngoài ra ion nhôm cũng rất độc đối với cá và động vật khác trong nước và trên bãi lầy (Birdlife International, 1999).

3.4. Đổ chất phế thải trong khai thác than đã vùi lấp các dải rừng ngập mặn

            Ở Quảng Ninh có nhiều mỏ than lộ thiên sát ven biển hoặc sông nước mặn như: Hà Tu, Cẩm Phả, Mông Dương.... Khi khai thác than các xí nghiệp đổ vật phế thải xuống sông, biển lấp các bãi lầy có cây ngập mặn sinh sống. Việc xây dựng một số cảng than ở tỉnh này như cảng Uông Bí, Cửa Ông đã phá hủy nhiều đám RNM và hủy hoại các thảm cỏ biển và rạn san hô rất giàu động vật và hải sản ở vùng ven bờ và biển nông.

            Việc khai thác than với tốc độ cao như hiện nay đang là mối đe doạ lớn đối với hệ sinh thái RNM ở một số địa phương trên vì lượng chất thải rất lớn vẫn tiếp tục đổ ra sông, biển hoặc do mưa làm xói mòn đất, than từ mỏ xuống các sông bé (ở Mông Dương) vùi lấp các những RNM ven sông và phá huỷ môi trường sống của các động vật hoang dã ở đó.

 

Hộp 4. Khai thác than phá huỷ các hệ sinh thái RNM ven biển

Ở Quảng Ninh có nhiều mỏ than lộ thiên sát ven biển hoặc sông nước mặn như: Hà Tu, Cẩm Phả, Mông Dương... Khi khai thác than các xí nghiệp đổ vật phế thải xuống sông, biển, lấp các bãi lầy có cây ngập mặn sinh sống. Việc xây dựng một số cảng than ở tỉnh này như Uông Bí, Cửa Ông đã phá huỷ nhiều RNM và huỷ hoại các thảm cỏ biển. Bụi than và chất phế thải đã huỷ diệt các rạn san hô sống, phá huỷ khu hệ động vật phong phú ở đây.

 (Ảnh: Phan Nguyên Hồng)

 

3.5. Phá rừng ngập mặn để phát triển đô thị, cảng biển

            Trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá đất nước, nhều vùng RNM ở ven biển, cửa sông đã và đang bị lấp đất để xây dựng đô thị, khu công nghiệp, cảng biển như Nghi Sơn (Thanh Hoá), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Tuần Lễ (Khánh Hoà), thị xã Hà Tiên... Hiện nay diện tích RNM đã bị thu hẹp mạnh, nếu không có biện pháp bảo vệ những dải RNM còn lại ở một số địa phương thì không những làm mất đi nguồn tài nguyên quí giá mà còn mất cảnh quan đặc thù của vùng nhiệt đới. Hiện tượng xói lở bờ sông, bờ biển khó tránh khỏi, kinh phí để chống xói lở có thể gấp hàng trăm lần tiền trồng và bảo vệ rừng ngập mặn.

3.6. Phá rừng ngập mặn để làm đầm tôm

            Sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi tôm đã có những tác động nghiêm trọng đến hệ sinh thái RNM của Việt Nam (EJF, 2003).

            Chỉ trong hai thập kỷ vừa qua hơn 200.000 ha RNM đã bị phá hoại, bị ngâm nước chết để làm đầm tôm (Hồng, 2003). Trong những năm đầu của thế kỷ 21, phong trào nuôi tôm nước lợ tiếp tục được nhà nước khuyến khích, cho nên ở một số địa phương hiện tượng phá RNM bất hợp pháp để làm đầm tôm trong đó một phần là rừng phòng hộ, là khu bảo tồn thiên nhiên như Khu bảo tồn Đất Mũi, các sân chim ở Bạc Liêu, Cà Mâu đang tiếp tục diễn ra rất sôi động.

            Tình hình này đang là mối đe doạ lớn nhất đối với hệ sinh thái RNM và môi trường ven biển.

3.6.1. Phát triển nghề nuôi tôm ở vùng rừng ngập mặn làm suy giảm tài nguyên đa dạng sinh học

            Mất RNM là mất nơi sống, nơi sinh sản, vườm ươm của nhiều loài động vật dưới nước và trên cạn. Một số nghiên cứu trước đây đã chỉ rõ điều đó. Ở phía tây nam mũi Cà Mau chỉ sau 1 năm đắp đầm tôm, trong đầm chỉ còn 2 loài động vật đáy với số lượng cá thể có rất ít, trong lúc ở bãi triều sát đầm có 22 loài với nhiều cá thể (Hồng và An, 1992). Nghiên cứu đầm tôm bỏ hoang ở cửa Nam Triệu (Hải Phòng) (trên đất RNM) cho thấy sinh khối động vật đáy giảm tới 9 lần so với vùng lân cận còn RNM (Trọng và Hồng, 2001).

            Trong những năm 1980, cua giống ở ven biển đồng bằng Bắc Bộ rất ít phải mua ở miền Trung. Sau khi phục hồi RNM, lượng cua giống ngày càng nhiều. Rất nhiều gia đình đã giàu lên nhờ bắt cua giống bán (Thọ và cs, 2003).

            Nếu RNM tiếp tục bị phá làm đầm nuôi tôm thì các hải sản và nguồn giống tôm, cua cũng không còn.

            Trước đây, nhiều loại chim di cư về trú đông và kiếm ăn ở các vùng cửa sông ven biển có RNM. Đáng lo ngại nhất là sân chim Bạc Liêu, nơi trước đây có hàng vạn cá thể các loài chim nước, chim di cư. Mặc dầu được nhà nước đầu tư mở rộng diện tích vùng đệm, nhưng phong trào nuôi tôm tự phát của một số người ở địa phương đang lấn dần diện tích Khu bảo tồn. Việc đào mương dẫn nước mặn vào vùng đệm đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường sống của chim ở vùng lõi, một số cây là nơi làm tổ của chim như tra lâm vồ bị chết, chim không đủ nước ngọt để uống, các hoạt động của máy bơm xục khí đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến chim non, .v.v... Sau khi phá RNM, các loài chim và một số bò sát cũng biến mất.

3.6.2. Sử dụng các hoá chất tác động đến các sinh vật trong vùng rừng ngập mặn

            Do việc sử dụng hoá chất ở các trại tôm bán công nghiệp và công nghiệp thiếu kiểm soát như thuốc sát trùng, chất kháng sinh chloramphenicol, phân bón, thuốc trừ sâu, hoóc môn tăng trưởng cùng với các chất thải khác như thức ăn dư thừa, phân, CO2, amoniac, các kim loại nặng từ các đầm tôm được nước triều đem vào các cửa sông, kênh, rạch và vùng RNM đã phá huỷ chu trình dinh dưỡng trong hệ sinh thái RNM, vì các chất này gây hại đến hệ vi sinh vật rất phong phú, nhưng rất quan trọng trong nước biển. Hậu quả là nhiều động vật ăn mùn bã không sống được và ảnh hưởng dây chuyền đến các động vật ăn thịt, những loài hải sản có giá trị cao ở vùng RNM.

3.6.3. Dịch bệnh gây tác hại đến các động vật trong vùng

            Nuôi tôm trong đất đã chặt hết cây ngập mặn hoặc đã giết chết hết cây ngập mặn bằng cách giữ nước trong đầm làm cho môi trường thoái hoá nhanh. Trước hết các bộ phận cây chết bị phân huỷ trong điều kiện yếm khí sẽ tạo ra H2S và NH4 đầu độc các sinh vật sống trong đầm, kể cả các tảo phù du là thức ăn và nguồn cung cấp oxi cho tôm. Đất trong đầm chứa nhiều pirit dưới tác động của không khí và nhiệt độ cao kéo dài sẽ tạo ra H2SO4 - gây hại cho tôm và các sinh vật khác. Ngoài các điều kiện tự nhiên trên đây, mật độ tôm quá dày, chế độ ăn không thích hợp cùng với các nguồn giống không chọn lọc sẽ tạo điều kiện cho bệnh ở tôm phát triển.

            Môi trường chứa các mầm bệnh này được thải ra các kênh rạch và gây hại không chỉ cho tôm nuôi mà cả nhiều động vật khác trong vùng.       

            Một hiện tượng khá phổ biến ở các đầm nuôi tôm quảng canh của cả miền Bắc và miền Nam là có nhiều tảo dao động như Oscillatoria subbrevis, O. limota. Các loài tảo này thường phát triển thành lớp dầy nhờn, màu lục, nổi thành vùng tảo lab-lab trên mặt đầm. Khi trời nắng nhất là vào mùa mưa, chúng tiêu thụ một số lượng lớn chất dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự phát triển của các thực vật phù du. Mặt khác khi chúng chết sẽ làm mặt nước trong đầm bị thối, lượng ôxy hòa tan giảm, góp phần làm cho chất lượng nước bị thoái hóa nhanh. Khi tháo nước đầm, đánh bắt tôm cua, nước có các chất độc hại trên chảy ra sông, rạch và các đầm tôm ở khu vực lân cận, làm ô nhiễm cả vùng rộng lớn xung quanh. Một số động vật phải di chuyển đi chỗ khác. Một số động vật đáy hấp thụ các chất độc hại cũng ảnh hưởng đến sinh trưởng hoặc chết dần.

            Theo Lê Diên Dực (1996), bệnh sốt rét có thể bùng phát do mất RNM vì ấu trùng của loài muỗi sốt rét nước lợ (Anopheles sinensis) sống trong RNM, ăn tảo tiểu cầu Chlorella - tảo này chỉ phát triển mạnh nếu đủ ánh sáng. Khi RNM còn tốt thì tảo không phát triển nên số lượng muỗi hạn chế, ngược lại khi mất rừng thì bệnh sốt rét có  nguy cơ bột phát. Thực tế đã chứng minh hiện tượng trên là đúng. Ở huyện Bình Đại - Bến Tre và ở Ngọc Hiển - Cà Mau, vào những năm 1975, 1976, bệnh sốt rét phát triển vì phần lớn RNM bị chất độc hoá học huỷ diệt (Hồng (chủ biên), 1999).

3.6.4. Xói lở bờ biển, bờ sông, các hồ chứa

            Tình trạng chặt phá RNM để làm đầm tôm đang gây ra xói lở ở các vùng bờ biển, cửa sông như Cửa Hội (Hà Tĩnh), cửa sông Trần Đê (Sóc Trăng), bờ đầm Nại (Ninh Thuận).v.v...

3.7. Buông lỏng quản lý, chạy theo nguồn lợi trước mắt

Các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương chưa đánh giá đúng vai trò to lớn của hệ sinh thái RNM; buông lỏng quản lý trong việc sử dụng tài nguyên vùng ven biển có RNM; không kiên quyết xử lý việc phá rừng để nuôi tôm. Nhiều địa phương chỉ chú trọng đến lợi ích trước mắt là cho đấu thầu đất bãi lầy có RNM ở ven biển, cửa sông để nuôi tôm xuất khẩu mà chưa tính đến hậu quả lâu dài do thiên tai và suy giảm tài nguyên khi không còn rừng.

3.8. Những mối đe doạ khác

Trước chiến tranh Đông Dương (1945), Việt Nam có tới 43,6% diện tích đất có rừng che phủ, chủ yếu là rừng nguyên sinh. Ngày nay chỉ có 28%, phần lớn là rừng trồng các loài cây nhập nội, rừng tái sinh. Hậu quả của tình hình này đã làm thay đổi khí hậu ở trong vùng mưa lũ, hạn hán thất thường và ở mức độ cao, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng ở cả vùng núi và vùng ven biển.

            Việc khai thác nước ngầm bừa bãi dùng trong sinh hoạt, tưới cây, đặc biệt là phục vụ cho việc nuôi tôm thâm canh ven biển đang là mối đe doạ lớn đối với hệ sinh thái RNM. Hiện tượng suy thoái RNM do độ mặn nước triều quá cao đã và đang làm cho một số diện tích rừng trồng ở Quảng Ninh, Thái Bình bị chết hoặc bị hà bám dày đặc rồi chết dần.

            Bên cạnh đó việc đắp đê ngăn mặn, đắp bờ bao  ngăn lũ tràn ở đồng bằng sông Cửu Long đã làm cho độ mặn ở vùng cửa sông, các con sông có nước lợ về mùa khô tăng cao, ảnh hưởng lớn đến các loài động vật ưa nước lợ như bần chua (Sonneratia caseolaris), dừa nước (Nypa fruticans) rất phong phú ở vùng này, một số loài thân mềm, giáp xác và cá nước lợ cũng giảm dần.

Nước biển dâng

            Hiện tượng này được tạo ra bởi tổ hợp của nhiều yếu tố, đặc biệt do sự tăng khí thải công nghiệp, nông nghiệp như CO2, CH4 và mất RNM. Những dự báo cho biết trong thế kỷ này, Trái đất sẽ ấm lên, mức nước biển sẽ dâng cao hơn mức hiện nay có thể từ 60-100cm. Trong điều kiện đó nhiều vùng đất thấp ven biển, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị chìm ngập trong nước biển, các rừng cây ngập mặn, các đầm tôm cũng không còn nữa.

Một số địa phương vận dụng sai lệch văn bản của Nhà nước (QĐ 773) trong việc sử dụng đất bồi mặt nước ven biển. Họ không những không quan tâm đúng mức đến việc trồng, bảo vệ rừng phòng hộ mà chỉ coi RNM là vùng đất ngập nước ít giá trị nên có qui hoạch phá một số RNM để mở rộng diện tích nuôi tôm (tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng, tỉnh Thanh Hoá, tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Khánh Hoà...).

Một số đề án trồng RNM của các NGOs đã hết thời hạn hỗ trợ kinh phí để chăm sóc bảo vệ rừng. Khi giao lại cho địa phương do không đủ kinh phí để tổ chức bảo vệ, nên có thể rừng lại tiếp tục bị chuyển đổi sang mục đích kinh tế khác.

Tính pháp lý của các bản hợp đồng và cam kết giữa NGOs và chính quyền hoặc các đoàn thể ở một số địa phương bị vi phạm và không thực hiện đầy đủ do những người ký (bên B) sau một số năm đã chuyển sang công tác khác; một số người lãnh đạo mới không chịu kế thừa trách nhiệm quản lý, mà chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt là phát triển nguồn lợi từ tôm nuôi để xuất khẩu.

 

IV. đề xuất đối với việc phục hồi rừng ngập mặn ven biển

4.1. Các mục tiêu chiến lược hành động quốc gia về rừng ngập mặn đến 2010

4.1.1. Mục tiêu chung

            Chiến lược nhằm thúc đẩy việc bảo vệ, phục hồi, sử dụng và quản lý có hiệu quả hệ sinh thái rừng ngập mặn (HSTRNM) Việt Nam theo định hướng phát triển bền vững, đảm bảo các chức năng sinh thái, giá trị và tính đa dạng sinh học của HSTRNM đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng cửa sông ven biển.

4.1.2. Các mục tiêu cụ thể

            Hệ sinh thái rừng ngập mặn là một thành tố của đất ngập nước, là một loại rừng phòng hộ đồng thời cũng là nguồn lợi rất lớn về thuỷ sản. Do đó chiến lược hành động bảo vệ HSTRNM phải phù hợp với các mục tiêu chiến lược đất ngập nước và chiến lược của các ngành Lâm nghiệp, thuỷ sản.

            Tuy nhiên, RNM là một hệ sinh thái có đặc thù ở vùng chuyển tiếp giữa biển và đất liền (ecotone), rất nhạy cảm trước các tác động của con người và thiên nhiên. Do đó không thể áp dụng cứng nhắc các luật về rừng nội địa, về thuỷ sản vào việc sử dụng và quản lý.

Tăng cường hiệu quả pháp luật về quản lý và bảo vệ HSTRNM

Đánh giá tiềm năng các tài nguyên trong HSTRNM, hiện trạng về kinh tế xã hội trong vùng có RNM, tìm nguyên nhân và hậu quả của các hình thức sử dụng không hợp lý hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp trước mắt và lâu dài để sử dụng bền vững.

Đề xuất các biện pháp giữ dìn và phục hồi các chức năng và giá trị của HSTRNM. Ưu tiên các vùng mà RNM có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường, cuộc sống của người nghèo, có ý nghĩa quốc gia, quốc tế như các khu bảo tồn, các sân chim, các vườn quốc gia.

Tăng cường hợp tác giữa các ngành có liên quan và giữa trung ương và với địa phương trong việc qui hoạch và quản lý HSTRNM.

Tìm các biện pháp để nâng cao mức sống của nhân dân sống trong vùng RNM để hạn chế tối đa việc phá rừng nuôi tôm và chặt phá rừng.

Khuyến khích nghiên cứu khoa học, điều tra tổng hợp HSTRNM ở các vùng sinh thái khác nhau đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường cửa sông, ven biển.

Đề ra các biện pháp có hiệu quả để nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò và lợi ích của HSTRNM từ đó tạo điều kiện cho cộng đồng bảo vệ RNM, đấu tranh với các hành vi phá RNM vì mục tiêu kinh tế trước mắt, cục bộ.

Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu, phục hồi, bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững HSTRNM.

 

Hộp 5. Một số kiến nghị của hội thảo toàn quốc “Vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn và rạn san hô trong việc giảm nhẹ tác động của đại dương đến môi trường”

            Trong hai ngày 8 – 9/10/2005, nhờ sự hỗ trợ về kinh phí của Quỹ Môi trường Sida Thuỵ Điển (SEF) và Tổ chức Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (IUCN), Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức Hội thảo trên với sự tham gia của 130 đại biểu trong toàn quốc cùng với một số chuyên gia về môi trường quốc tế và khu vực.

            Hội thảo đã nghe 22 báo cáo liên quan đến sóng thần, lụt bão và vai trò của rừng ngập mặn, rạn san hô trong việc giảm nhẹ tác hại của sóng thần và thiên tai đối với đê biển và đới bờ; đề xuất các giải pháp phục hồi, bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái rừng ngập mặn và rạn san hô, cùng một số kết quả nghiên cứu về sinh thái, kinh tế – xã hội ở hai hệ sinh thái trên. Hội thảo cũng dành nhiều thời gian thảo luận, đề xuất các kiến nghị với Nhà nước và các ngành có liên quan.

            Hội thảo đã nhất trí gửi một số kiến nghị đến lãnh đạo Nhà nước và các ngành có liên quan như sau:

1. Một số nhà khoa học và một số địa phương ven biển cho biết: thiệt hại về đê biển và tài sản trong 3 cơn bão số 2, số 6, số 7 năm 2005 rất lớn. Tuy nhiên, nơi nào trồng được dải rừng ngập mặn tốt thì đê không bị xói lở hoặc bị vỡ như Bàng La - Đồ Sơn, Vinh Quang – Tiên Lãng – Hải Phòng, Thái Đô - Thái Thuỵ – Thái Bình.v.v…

Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn điều tra, so sánh và đánh giá đầy đủ những thiệt hại do các cơn bão gây ra ở nơi không có rừng ngập mặn và nơi có rừng ngập mặn rồi công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

2. Đề nghị Chính phủ sớm có một số văn bản qui định cụ thể về những biện pháp bảo vệ các rừng ngập mặn chắn sóng, các loại rừng chắn gió ven biển và các rạn san hô. Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Thuỷ sản và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thu hồi đất vốn là rừng ngập mặn đang nuôi tôm nhưng không hiệu quả hoặc đã bỏ hoang và có kế hoạch phục hồi các vành đai RNM.

3. Nhà nước sớm có văn bản qui định vành đai cây xanh bắt buộc để bảo vệ bờ sông, bờ biển và đê biển khỏi bị xói lở (do mưa, bão, sụt đất, triều cường, nước biển dâng và do tàu thuyền di chuyển trên sông). (Ở Indonesia, vành đai cây xanh được chính phủ qui định ở ven sông là 30 – 50m, ở ven biển 500 – 1000m).

4. Chính phủ nên qui định vành đai rừng ngập mặn là một thành phần quan trọng trong hệ thống đê biển và dành một phần kinh phí thích hợp trong việc tu bổ đê điều để phục hồi hoặc trồng mới và bảo vệ lâu dài vành đai đó. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có văn bản hướng dẫn thực hiện sớm vành đai.

5. Bộ Thuỷ sản cần đánh giá chính xác hiệu quả nuôi tôm trên đất rừng ngập mặn vì thường sau một số ít năm, đất thoái hoá (acid sulphat), môi trường trong và ngoài đầm bị ô nhiễm, dịch bệnh lan tràn, diện tích đầm bỏ hoang ngày càng nhiều. Nên chuyển những hộ nuôi không có hiệu quả sang các phương thức nuôi hải sản lồng bè trên kênh rạch với vốn vay ưu đãi của ngân hàng. Cần xây dựng và phát triển các dạng nuôi tôm sinh thái thay cho các hình thức nuôi khác.

6. Trong kế hoạch khoa học giai đoạn 2006 – 2010, Bộ Khoa học và Công nghệ cho phép xây dựng một chương trình Nhà nước để:

            a. Nghiên cứu tác động của các vành đai rừng ngập mặn có cấu trúc, thành phần khác nhau ở ven biển làm giảm sóng bão và các thiên tai khác.

            b. Đánh giá giá trị kinh tế, môi trường của hệ sinh thái rừng ngập mặn và rạn san hô, so sánh với các hoạt động kinh tế khác ở vùng đất ngập nước ven biển, cửa sông để các nhà hoạch định chính sách có đầu tư thích đáng.

            c. Có chương trình nâng cao nhận thức cho các cơ quan chính phủ, các quan chức ở trung ương và địa phương và cộng đồng về vai trò của rừng ngập mặn và các hệ sinh thái ven biển khác đối với sự phát triển bền vững về kinh tế và môi trường.

7. Cần qui hoạch lại việc sử dụng đất cả ở trong và ngoài đê. Chọn nơi thuận lợi để xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên ven đê và có cơ chế quản lý thích hợp.

8. Cần xây dựng “Quĩ phục hồi và bảo tồn rừng ngập mặn” do chính phủ và các tổ chức quốc tế, NGOs tài trợ.

9. Các vị lãnh đạo cao cấp của Nhà nước nên quan tâm hơn đến công tác quản lý các rừng ngập mặn và rạn san hô trong việc bảo vệ đê điều và hạn chế xói lở ven biển, ven sông (hiện nay ở Thái Lan, vua đi thăm rừng ngập mặn, công chúa tham gia trồng rừng ngập mặn, vua và chính phủ có quyết định cấm phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, thủ tướng Malaysia cũng rất quan tâm đến việc bảo vệ rừng ngập mặn, nhất là sau khi có sóng thần 26/12/2005). Theo thông tấn xã Malaysia ngày 9/1/2005, thủ tướng Malaysia đã phát biểu “Không được đụng đến rừng ngập mặn vì rừng ngập mặn là lá chắn tự nhiên cần được bảo vệ”.

 

4.2. Các hành động chiến lược sử dụng bền vững, bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam (Hồng 2004, Sâm và cs 2005)

1. Mục tiêu 1: Thay đổi cơ bản nhận thức về vai trò, giá trị HSTRNM và sử dụng bền vững HSTRNM cho các nhà quản lý chủ yếu ở cấp địa phương (tỉnh, huyện), các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư vùng RNM.

Hành động 1.1: Đẩy mạnh vịêc tuyên truyền,giáo dục các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư vùng RNM và các nhà quản lý địa phương về vai trò và giá trị của HSTRNM và quản lý, sử dụng bền vững HSTRNM vì lợi ích trước mắt và lâu dài.

Nội dung: 

Soạn thảo các tài liệu phổ thông để tuyền truyền phổ cập trên các kênh thông tin dựa vào chương trình nâng cao kiến thức về tài nguyên rừng trong đó có HSTRNM cho các lớp bồi dưỡng chính trị, học tập lý luận ở các trường Đảng, đào tạo cán bộ cấp tỉnh.

Tuyên truyền, giáo dục các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư vùng RNM về vai trò và giá trị của RNM, việc quản lý và sử dụng bền vững RNM vì lợi ích trước mắt và lâu dài bằng nhiều hình thức phong phú (Tài liệu bướm, tập huấn, nói chuyện, phát thanh, truyền hình …..)

b. Cơ quan thực hiện: Các VQG, khu BTTN, Ban nghiên cứu HSTRNM (MERC/MERD), Viện KHLN Việt Nam,Viện ĐTQHR và các tổ chức phi Chính phủ.

c.  Thời gian thực hiện: 2006-2015

2. Mục tiêu 2: Nâng cao hiệu quả bảo vệ, phục hồi và phát triển HSTRNM

Hành động 2.1: Củng cố và nâng cao hiệu lực hệ thống quản lý Đất ngập nước, HSTRNM ở cấp Bộ (Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Thủy sản) và địa phương (tỉnh, huyện) trong mối quan hệ liên ngành (Nông lâm nghiệp - Thuỷ sản - Địa chính - Xây dựng - Du lịch...).

a.  Nội dung:

Định hướng hoạt động chủ yếu như sau: Nguyên tắc chung là các tổ chức quản lý không cồng kềnh, phức tạp và trùng lặp vì đã có sự phân công trách nhiệm giữa các Bộ. Tuy nhiên vịêc phối hợp liên ngành cần phải đặt ra trong tổ chức quản lý HSTRNM, nhất là ở địa phương.

Bộ Tài nguyên Môi trường chịu trách nhiệm quản lý đất ngập nước trên phạm vi toàn quốc cần xây dựng thông tư liên ngành quản lý HSTRNM.

Bộ Nông nghiệp và PTNT chịu trách nhiệm chính quản lý RNM cần cử cán bộ chuyên trách theo dõi, giám sát rừng ngập  nói chung trong đó có rừng ngập mặn. Cần quan tâm quản lý không chỉ RNM mà là hệ sinh thái nên cần bồi dưỡng kiến thức tổng hợp và có mối quan hệ với ngành thuỷ sản, địa chính,…..

Bộ Thủy sản chịu trách nhiệm về quản lý nguồn lợi thủy sản trong vùng RNM.

Củng cố và hoàn thiện hệ thống Ban quản lý các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng phòng hộ hoạt động có hịêu quả.

Củng cố và cải thiện hoạt động của các Lâm ngư trường .

b.  Cơ quan thực hiện: Bộ TNMT, Bộ NN và PTNT, Bộ thuỷ sản, các VQG,  khu BTTN, Lâm ngư trường, vv.

c.  Thời gian thực hiện : 2006-2007

Hành động 2.2: Bổ sung các thể chế, chính sách quốc gia nhằm hình thành các quyết định, nghị định  về việc quản lý sử dụng HSTRNM một cách bền vững và có hiệu quả.

a.  Nội dung:

Xây dựng khung pháp lý liên ngành về quản lý sử dụng HSTRNM

Rà soát lại các chính sách, quy định liên quan đến RNM.

Phân tích, bổ sung các chính sách, quy định về sử dụng HSTRNM liên quan đến thủy sản và các ngành kinh tế khác.

b.  Cơ quan thực hiện:  Bộ NN và PTNT, Bộ TNMT, Bộ thuỷ sản.

c.  Thời gian thực hiện: 2006-2008

Hành động 2.3: Rà soát, xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch sử dụng đất các tỉnh, huyện có rừng ngập mặn mang tính pháp lý, khoa học và thực tiễn..

a.  Nội dung:

Rà soát, bổ sung các quy hoạch đã có trên quan điểm liên ngành, dựa trên các luận cứ khoa học và xem xét RNM dưới góc độ hệ sinh thái.

Xây dựng các quy hoạch mới có tính pháp lý, khoa học và thực tiễn và được các cấp thẩm quyền phê duyệt.

Phổ cập các quy hoạch và giám sát thực hiện quy hoạch.

b. Cơ quan thực hiện: Viện ĐTQHR,Viện Quy hoạch TKNN, Các sở TNMT các tỉnh có RNM, UBND tỉnh, huyện, các VQG, Khu BTTN, Lâm ngư trường,…

c.  Thời gian thực hiện: 2006- 2008

Hành động 2.4: Bảo vệ, khôi phục, phát triển RNM và Sử dụng bền vững HSTRNM.

a. Nội dung:

Nghiên cứu, cải tiến các mô hình sử dụng bền vững HSTRNM phù hợp trong các điều kiện sinh thái khác nhau. Đẩy mạnh hoạt động khuyến lâm ngư , soạn thảo các hướng dẫn công nghệ phổ cập trong thực tiễn.

Đẩy mạnh bảo vệ HSTRNM dựa trên các quy hoạch có tính pháp lý và khoa học. Cương quyết ngăn chặn các hoạt động phá RNM nuôi trồng thuỷ sản và sử dụng cho các mục tiêu khác.

Hạn chế khai thác RNM để cung cấp gỗ. Từ nay đến  2010 tập trung nuôi dưỡng và tỉa thưa rừng đáp ứng một phần nhu cầu gỗ củi cho người dân.

Lập kế hoạch phục hồi rừng ngập mặn theo từng giai đoạn 5 năm, xác định rõ địa điểm và phương thức, giải pháp phục hồi phù hợp, có hiệu quả.

Việc gây trồng rừng mới cần chú ý cân nhắc mọi mối quan hệ sinh thái trong hệ thống RNM, đặc biệt ở các khu RAMSAR.

Đẩy mạnh hoạt động các cộng đồng, các tổ chức mặt trận tham gia bảo vệ, khôi phục RNM (các nhóm hộ gia đình, hội thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, học sinh...).

b. Cơ quan thực hiện: Các viện nghiên cứu (Viện KHLN, ĐTQHR, Thủy sản), Các ban quản lý rừng, lâm ngư trường, UBND tỉnh, huyện, cộng đồng, các tổ chức khuyến lâm,….

c.  Thời gian thực hiện: Pha 1: 2006- 2010 và pha 2: 2011 – 2015

Hành động 2.5: Củng cố và phát triển các khu bảo tồn và vườn quốc gia

a. Nội dung :

Củng cố, xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia đã được phê duyệt dựa trên các luận chứng kinh tế – kỹ thụât, dự án đầu tư phát triển và gắn với việc nâng cao đời sống dân cư và cộng đồng.

Các khu BTTN mới sẽ được hình thành như ở cửa sông Tiên Yên (Quảng Ninh), cửu sông Văn úc (Hải Phòng), Thái Thụy (Thái Bình), Nghĩa Hưng (Nam Định),… cần được điều tra đánh giá toàn diện điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, hệ sinh thái và ĐDSH và lập luận chứng kinh tế – kỹ thuật  trình phê duyệt.

b. Cơ quan thực hiện: Bộ NN và PTNT, Bộ TNMT, Bộ KHĐT, Các VQG, khu BTTN, UBND tỉnh,huyện, Viện ĐTQHR,….

c. Thời gian thực hiện: 2006– 2010

3. Mục tiêu 3: Nâng cao hiểu biết về các giá trị ĐDSH của HSTRNM và giá trị bảo tồn các nguồn gen quý hiếm.

Hành động 3.1: Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, cộng tác trong nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất.

a. Nội dung : Những hoạt động chủ yếu là: Cần thiết lập một chương trình nghiên cứu quốc gia về đất ngập nước, trong đó có HSTRNM,vv. Những nội dung cơ bản cần đề cập trong nghiên cứu là:

Thống kê và theo dõi diễn biến về diện tích, diễn thế, cấu trúc và chất lượng RNM. Bản đồ hoá diện tích RNM các khu vực. Xây dựng cơ sơ dữ liệu quốc gia

Bảo tồn các nguồn gen quý hiếm

Nghiên cứu có hệ thống HSTRNM, ĐDSH và mối quan hệ mắt xích trong chu trình dinh dưỡng.

Nghiên cứu các quá trình biến đổi HSTRNM dưới tác động con người

Cần quan tâm đánh giá tác động ảnh hưởng tới môi trường đất và nước.

Nghiên cứu các mô hình sử dụng hợp lý HSTRNM và các ảnh hưởng tới môi trường và ĐDSH.

Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật phục hồi và phát triển RNM.

Nghiên cứu các vấn đề kinh tế-xã hội và lượng giá về giá trị của HSTRNM.Tăng cường tiềm lực cho các cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về HSTRNM

b. Cơ quan thực hiện: Các tổ chức nghiên cứu ở Viện, trường (Viện KHLN Việt Nam, Viện nghiên cứu thủy sản, Ban nghiên cứu HSTRNM (MERC/MERD)), các tổ chức quốc tế (UNEP, GEF, IUCN, ACIAR, NGO…)

c. Thời gian thực hiện: Pha 1: 2006-2010 và pha 2: 2011 – 2015

Hành động 3.2: Mở rộng và tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, bảo vệ, phục hồi và sử dụng bền vững HSTRNM.

a. Nội dung:

Mở rộng và củng cố mối quan hệ hợp tác quốc tế với các tổ chức và các mạng lưới nghiên cứu RNM: Hội thảo quốc tế về HSTRNM (ISME, UNESCO, IUCN, tổ chức về chim quốc tế, FAO, MAB Nhật Bản, ACIAR) và nhiều tổ chức phi chính phủ khác như ACTMANG, SCF-UK, OXFAM Bỉ, IDRC, Hội chữ thập đỏ Thụy Sĩ, vv.

Tăng cường tiềm lực nghiên cứu của các tổ chức nghiên cứu HSTRNM để nâng cao hiệu quả hợp tác và tranh thủ nguồn kinh phí nghiên cứu nước ngoài.

Trao đổi kinh nghiệm, tổ chức các cuộc hội thảo, tham quan cũng là những hoạt động hợp tác quốc tế quan trọng cần được tăng cường.

b. Cơ quan thực hiện: Các tổ chức quốc tế đã nêu trên và các đối tác Việt Nam, các Bộ NN và PTNT, TNMT; các viện nghiên cứu (Viện KHLN Việt Nam; viện ĐTQHR); các trường đại học liên quan, Ban nghiên cứu HSTRNM (MERC/MERD).

c. Thời gian thực hiện: 2006– 2015

4. Mục tiêu 4: Góp phần cải thiện đời sống người dân sống chung quanh rừng ngập mặn.

Hành động 4.1: Tổ chức xã hội hoá nghề rừng và nâng cao đời sống người dân ở các vùng có RNM.

a. Nội dung:

Hình thành các tổ chức để người dân tham gia các hoạt động bảo vệ và phục hồi rừng (nhóm hộ gia đình, các hội quần chúng  như thanh niên, phụ nữ, phụ lão, các nhóm tình nguyện), người dân và cộng đồng cũng cần được biết và thảo luận những hoạt động chủ yếu trong quản lý, phục hồi và bảo vệ HSTRNM chung quanh họ. 

Xã hội hoá nghề rừng nên theo hướng đồng quản lý nghĩa là có sự tham gia  đồng thời giữa chủ rừng và cộng đồng trong bảo vệ và quản lý rừng.

Nâng cao  đời sống người dân  thông qua sử dụng có hiệu quả và bền vững HSTRNM và tạo thêm công ăn việc làm cho người dân trong vùng tuỳ điều kiện cụ thể.

b. Các cơ quan thực hiện: UBND các tỉnh, huyện; các ban quản lý rừng, các lâm ngư trường, các khu bảo tồn và vườn quốc gia RNM.

c. Thời gian thực hiện: Pha 1: 2006– 2010 và pha 2: 2011 – 2015

 

 

4.3. Các hành động và khu vực ưu tiên quản lý rừng ngập mặn

 Các hành động ưu tiên

Mục tiêu 1:

Hành động 1.1: Tăng cường các hoạt động phù hợp nhằm nâng cao nhận thức về vai trò, giá trị HSTRNM, quản lý và sử dụng bền vững HSTRNM cho các nhà quản lý chủ yếu ở các địa phương có RNM (2006-2010);

Hành động 1.2: Đẩy mạnh vịêc tuyên truyền, phổ cập tới các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư vùng RNM về vai trò và giá trị của HSTRNM và quản lý, sử dụng bền vững HSTRNM vì lợi ích trước mắt và lâu dài (Pha 1: 2006-2010 và pha 2: 2011 - 2015).

Mục tiêu 2:

Hành động 2.2: Bổ sung các thể chế, chính sách quốc gia nhằm hình thành các quyết định, nghị định  về việc quản lý sử dụng HSTRNM một cách bền vững và có hiệu quả (2006-2007);

Hành động 2.3: Rà soát, xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch sử dụng đất các tỉnh, huyện có rừng ngập mặn mang tính pháp lý, khoa học và thực tiễn (2006– 2007);

Hành động 2.5: Củng cố và phát triển các khu bảo tồn và vườn quốc gia (2006– 2010).

Mục tiêu 3:

Hành động 3.1: Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, cộng tác trong nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất (Pha 1: 2006-2010 và pha 2: 2010 - 2015).

Mục tiêu 4:

Hành động 4.1: Tổ chức xã hội hoá nghề rừng và nâng cao đời sống người dân ở các vùng có RNM (Pha 1: 2006– 2010 và pha 2: 2010 – 2015).

 

4.3. Các dự án đề xuất

Dự án 1:  Xây dựng và nâng cao hiệu lực các chính sách, thể chế và thiết lập hình thức tổ chức hợp lý ở địa phương nhằm quản lý bền vững rừng ngập mặn (2 năm).

Dự án 2: Thống kê diện tích và diễn biến  rừng ngập mặn, đất rừng ngập mặn và hiện trạng sử dụng đất rừng ngập mặn (Theo chu kỳ 5 năm).

Dự án 3: Hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng rừng ngập mặn có tính khoa học pháp lý ở cấp địa phương giai đoạn 5-10 năm (2 năm).

Dự án 4: Nghiên cứu bổ sung một cách hệ thống các nguồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam, môi trường hệ sinh thái và lượng giá kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn (4 – 5 năm).

Dự án 5: Xây dựng các mô hình sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn. (3 năm).

Dự án 6: Nghiên cưú thiết lập các đai rừng ngập mặn phòng hộ ven biển, các giải pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên  và phục hồi rừng trên diện tích đất rừng ngập mặn (3 - 4 năm).

Dự án 7: Xây dựng các vườn bảo tồn gen cây rừng ngập mặn và các loài cây rừng ngập mặn có nguy cơ diệt chủng (5 năm).

Dự án 8: Nâng cao nhận thức vai trò hệ sinh thái rừng ngập mặn cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách và cộng đồng (2 năm).

 

Tài liệu tham khảo

Aksornkoae, S., 1993. Ecology and management of mangroves. The IUCN Program, Bangkok: 69-70.

Alongi, D.M. and A. Sasekumar, 1992. Benthic communities. In: A.I. Robertsson and D.M. Alongi (eds) Tropical Mangrove Ecosystems. Coastal and Estuarines Studies. Washington D.C.: American Geophysical Union: 137-139.

Ngô An, 2003. Góp phần nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất rừng ngập mặn tỉnh Bến Tre theo mục tiêu phát triển bền vững. Bản thảo luận án tiến sĩ nông nghiệp. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.

Nguyễn Tác An, Phan Minh Thu, 2005. Đánh giá biến động RNM ở sông Cửu Long bằng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý. Trong: Phan Nguyên Hồng, Hoàng Thị Sản, Nguyễn Duy Minh (chủ biên) Vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn và rạn san hô trong việc giảm nhẹ tác động của đại dương đến môi trường. MERD/SEF/IUCN: 105-112.

Anon, 1998. UNESCO-MAB. Regional workshop on Can Gio mangrove biosphere reserve preparation and biosphere reserve networking in the southeast Asian Region. Ho Chi Minh City, 6-11 November 1998. Mangrove Ecosystem Research Division (MERD)/CRES/VNU: 28-35.

Barry, J., Le Cong Kiet, Vu Van Cuong, 1961. La vegetation de plages vasosablonneuses de la presqu’ile de Camranh. In: Annales de la Faculte de Sciences – Saigon: 129-140.

Trần Văn Ba, 1997. Cơ sở sinh học, sinh thái của việc trồng và sử dụng cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở Việt Nam. Luận án phó tiến sĩ khoa học sinh học.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2002. Dự thảo "Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo vệ tại Việt Nam 2002-2010". Tài liệu để thảo luận tại Hội thảo ngày 26-27/6/2002, Thành phố Hạ Long, 5/2002.

Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2002. Chiến lược quản lý và bảo tồn đất ngập nước 2003-2010. Hà Nội, 12/2002.

Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003. Chương trình quốc gia về bảo tồn và quản lý đất ngập nước (dự thảo lần 1). Cơ quan phối hợp soạn thảo: Cục Bảo vệ Môi trường (EPA), Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN). Hà Nội, 2/2003.

Birdlife International, 1999. Wetland in the balance - A strategy for balance and harmony in wetland resource mangement in the Mekong Delta - Đất ngập nước trong sự cân bằng - Chiến lược cân bằng và hài hoà trong quản lý tài nguyên đất ngập nước ở Đồng bằng sông Cửu Long (Song ngữ Anh Việt). The Royal Netherlands Embassy, Birdlife International, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật: 27 trang.

Blasco, F., 1975. Climatics factors and the biology of mangrove plants. In: S.C. Snedaker, J.G. Snedaker (eds.) Mangrove ecosystems research methods. UNESCO Paris: 18-35.

Chapman, V.J., 1975. Mangrove biogeography. In: Proceedings of the international symposium on biology and management of mangroves. Honolulu: 3-52.

Nguyễn Hoành Côi, 1995. Nghiên cứu tính đa dạng của các cây chữa bỏng, vết thương phần mềm và khả năng ứng dụng chúng trong thực tiễn ở Việt Nam. Luận án phó tiến sĩ khoa học sinh học.

Vu Van Cuong, 1964. Flore et végétation de la mangrove de la region de Saigon cap Saint Jaques. These 3c cycle. Univ. Paris: 16-24.

Dương Ngọc Cường, Trần Minh Khoa, 2004. Thành phần các loài cá thuộc các xã phía Bắc huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định. Trong: Phan Nguyên Hồng (chủ biên) Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng: Đa dạng sinh học, sinh thái học, kinh tế – xã hội - quản lý và giáo dục. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2004: 99-107.

Nguyễn Đình Cương, 1996. Kết quả trồng, chăm sóc bảo vệ  và phát triển rừng ngập mặn ở Cần Giờ, thành phố Hồ Chí MInh. Hội thảo Quốc gia “Mối quan hệ giữa phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn và nuôi trồng hải sản ven biển Việt Nam”. Huế, 31/10 - 2/11, 1996: 74-84.

Nguyễn Đức Cự (chủ biên), 1996. Điều tra khảo sát đất ngập nước triều vùng biển ven bờ và các đảo đông bắc Việt Nam. Trung tâm  Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia - Phân viện Hải dương họv Hải Phòng. Báo cáo: Đề án điều tra cơ bản cấp Nhà nước.

Dagar, J.T., A.D. Mongia, A.K. Bandyopadhyay, 1991. Mangrove of Andaman and Nicobar islands. .Osford and IBH publishing CO.PVT.LTD. New Dehli, Bombay, Calcuta. India: 113-153.

Hoàng Đức Đạt, 1997. Điều tra nghiên cứu khu hệ thực vật rừng ngập mặn ở Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh. Báo cáo tổng kết dự án bảo vệ và sử dụng bền vững đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng ngập mặn ở cửa sông Đồng Nai. Phòng Khoa học, Công nghệ và Môi trường, thành phồ Hồ Chí Minh: 45trang.

Lê Diên Dực, 1986. Kiểm kê đất ngập nước Việt Nam. Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường: 128tr.

Frusher, S.D., 1983. The ecology of juvenile penaeid prawns, mangrove crabs (Scylla serrata) in the Purari Delta. In: Petr, T. (ed.) The Purari, tropical environment of a high rainfall river basin. Junk Publ. The Hague.

Gwyther, D., 1993. The importance of Purari River Delta to the prawn trawl fisherty of the river basin. Junk Publ. The Hague.

Võ An Hà, 1980. Nghiên cứu bước đầu về hiện trạng 4 sân chim ở đồng bằng sông Cửu Long. Hội thảo toàn quốc về kết quả điều tra rừng ở miền Nam Việt Nam, tháng 10/1980. Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, 2002. Báo cáo tổng kết án trồng RNM từ 1997-2001 (đánh máy). 5 trang.

Phan Nguyên Hồng, Hoàng Thị Sản, 1984. Kết quả nghiên cứu hệ thực vật rừng ngập mặn Việt Nam. Trong: Tuyển tập Hội thảo Quốc gia về hệ thái rừng ngập mặn- Việt Nam lần thứ nhất. Hà Nội, 27-28/12/1984: 68 - 73.

Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Bội Quỳnh, Nguyễn Hoàng Trí, 1988. Rừng ngập mặn. Tập I: Tiềm năng và sử dụng. NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 165tr.

Phan Nguyên Hồng, 1991. Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam. Luận án tiến sĩ khoa học sinh học. Hà Nội: 35-40.

Phan Nguyen Hong, Hoang Thi San, 1993. Mangroves of Vietnam -IUCN. Bangkok: 35-50.

Phan Nguyen Hong, 1994. Causes and effects of the deterioration in the mangrove resources and environment in Vietnam. In: Proceedings of the National workshop “Reforestation and Afforestation of Mangroves in Vietnam”: 24-39.

Phan Nguyen Hong, 1996. Restoration of mangrove ecosystems in Vietnam: A case study of Can Gio District, Ho Chi Minh City. In: Colin Field (ed.) Restoration of mangrove ecosystems. The International Tropical Timber Organization and the International Society for Mangrove Ecosystems, Okinawa, Japan: 76-79.

 

Phan Nguyen Hong, Le Duc Tuan, Do Van Nhuong, 1996 Effects of the rehabilitation of mangroves on the environment and biodiversity in Can Gio District, Ho Chi Minh City. In: Second project planing meeting “Environmental assessment of mangrove reforestation as a means of improving coastal protection, stability and fisheries production”. Life sciences and technologies for developing countries. Programme of the Commission of the European Union. Hanoi, 27 - 28March, 1996: 56-77

Phan Nguyên Hồng, Nguyễn Bội Quỳnh, Trần Phú Cường, 1997. Báo cáo đánh giá các thiệt hại của chiến tranh hoá học lên RNM Việt Nam. Đề tài nhánh thuộc đề tài: “Đánh giá các thiệt hại của chiến tranh hoá học lên thiên nhiên” do Trung tâm tư vấn bảo vệ mtt và chuyển giao công nghệ chủ trì: 45tr.

Phan Nguyên Hồng (chủ biên), 1999. Rừng ngập mặn Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

Phan Nguyen Hong, 2000 A. Mangrove forest restoration for enhancing coastal ecosystem in Vietnam. In : V. Sumantakul, S Havanond, S. Charoenrak, J. Amornsanguansin, E. Tubthong, R. Pattanavilbool, P. Muangsong, R. Kansupa (eds). Proceedings of the regional seminar Ecotone VIII for East and Southeast Asian Countries "Enhancing coastal ecosystem restoration for the 21st century", Ranong and Phuket Provinces, Southern Thailand, 23-28 May, 1999: 73-79.

Phan Nguyên Hồng, 2003. Những nguyên nhân làm suy thoái rừng ngập mặn - Một số phương hướng sử dụng bền vững tài nguyên và môi trường vùng cửa sông ven biển. Tuyển tập hội thảo "Thực trạng và giải pháp cho việc bảo vệ bền vững và phát triển rừng ngập mặn ở Việt Nam". Vụ Chính sách Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Tam Đảo, 29/4/2003: 15 trang.

Phan Nguyên Hồng, Đào Văn Tấn, Vũ Thục Hiền, Trần Văn Thuỵ, 2004. Thành phần và đặc điểm của thảm thực vật vùng rừng ngập mặn huyện Giao Thuỷ. Trong: Phan Nguyên Hồng (chủ biên) Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng: Đa dạng sinh học, sinh thái học, kinh tế – xã hội - quản lý và giáo dục. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2004: 51-66.

Phan Nguyên Hồng, Vũ Thục Hiền, 2004. Kế hoạch hành động chiến lược bảo vệ, phục hồi và phát triển hệ sinh thái RNM đến 2010. Báo cáo Hợp phần RNM Dự án Ngăn ngừa xu hướng suy thoái biển Đông và vịnh Thái Lan. UNEP/ Viện Khoa học Lâm nghiệp.

Phan Nguyen Hong, 2005. Effects of mangrove restoration and conservation on the biodiversity and environment in Can Gio District. In: Marta Vannucci (ed.) Mangrove Management and Conservation: Present and Future. United Nations University Press. Tokyo-New York-Paris: 111-137.

Lê Xuân Huệ, Nguyễn Thị Thu Hà, 2004. Sự đa dạng côn trùng rừng ngập mặn Nam Định và Thái Bình. Trong: Phan Nguyên Hồng (chủ biên) Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng: Đa dạng sinh học, sinh thái học, kinh tế – xã hội - quản lý và giáo dục. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2004: 85-98.

Hussain, Z., Gayatri Acharya (eds.), 1994. Mangroves of the Sundarbans. Vol 2. Bangladesh, The IUCN Program: 115-132.

IUCN, 1983. Global status of mangrove ecosystems. Commission on ecology paper. No 3.

Hoàng Ngọc Khắc, Đỗ Văn Nhượng, 2005. Thành phần động vật đáy trong vùng RNM thuộc hai huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa và Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Báo cáo dự án "Hiện trạng và hiệu quả của việc phục hồi RNM đối với cuộc sống người dân vùng ven biển hai huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá và Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. MERD/JRC/IFRC. Hà Nội: 65-76.

Nguyen Van Khang, L.P.Dai, 1999. The situation of mangrove resource utilization in Tien Giang Province. In : P.N.Hong (ed). Proceedings of the national workshop "Sustainable and economically efficient utilization of resources in the mangrove ecosystem", Nha Trang City, 1-3 Nov. 1998. Agricultural Publishing House (APH), Hanoi : 78-79.

Hứa Chung Khem, 1998. Báo cáo khoa học đề án : “Trồng lại RNM ở nơi có đồng bào Khơme sinh sống”. Đề án Việt Nam - Hà Lan : 26 trang.

Kogo, M., 2000. ACTMANG's activities on mangrove restoration and conservation in Vietnam. In : P.N.Hong, N.H.Tri, Q.T.Q.Dao(eds). Proceedings of the scientific workshop on "Management and sustainable use of natural resources and environment in coastal wetlands", Hanoi, 1-3 Nov 1999. Agricultural Publishing House (APH), Hanoi :  8-19.

Bui Lai, 1997. Nghề nuôi tôm ở huyện Duyên Hải. Tham luận hội thảo khoa học. Thành phố Hồ Chí Minh, 11/1989: 10 trang.

Tien Hai Ly, 1999. The use of natural resources in the mangrove ecosystem of Bac Lieu protected forest. Economic - Ecological consequenses and solutions. In: P.N.Hong (ed). Proceedings of the national workshop "Sustainable and economically efficient utilization of resources in the mangrove ecosystem", Nha Trang City, 1-3 Nov. 1998. Agricultural Publishing House (APH), Hanoi : 180-181.

Maurand, P.1943. L’Indochine forestiere. Inst. Rech. agron. Indochine.2-3:185-194.

Mazda Yoshihiro, Michimasa Magi, Motohiko Kogo and Phan Nguyen Hong, 1997. Mangroves as a coastal protection from waves in the Tong King delta, Vienam. Mangroves and Salt Marshes 1 : 127-135.

Mien, P.V., B. Lai, D.Canh, D.B. Loc, and P.B. Viet, 1992. Các đặc điểm của hệ sinh thái cửa sông Đồng Nai – Sài Gòn. Tham luận hội thảo khoa học, thành phố Hồ Chí Minh, 8/2002: 7 trang.

Mohamed, K.TT, P.V. Rao, 1971. Estuarine phase in the life history of the commercial prawns of the West Coast of India. J.Mar.Biol.Assoc.India 13: 387-394.

Phung Trung Nga, Le Cong Kiẹt,  Bui Thuc Thuy, 1967. Notes on the vegetation of Tecksu island (đảo Hòn Tre). In: Annales de la Faculte de Science – Saigon, 1966-1967: 359-372.

Lê Nguyên Ngật, Trần Giang Hoàn, 2004. Lưỡng cư, bò sát vùng ven biển Nam Định, Thái Bình. Trong: Phan Nguyên Hồng (chủ biên) Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng: Đa dạng sinh học, sinh thái học, kinh tế – xã hội - quản lý và giáo dục. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2004: 117-120.

Đỗ Văn Nhượng, Hoàng Ngọc Khắc, 2003. Data on benthos in the mangrove areas of the Red river mouth. In: Phan Nguyen Hong, Quan Thi Quynh Dao, Tran Van Ba (eds.) Results of scientific research and awareness raising for local communities in the mangrove areas of Nam Dinh and Thai Binh provinces. Agricultural Publishing House, Hanoi: 51-66.

Đỗ Văn Nhượng, Hoàng Ngọc Khắc, 2004. Một số dẫn liệu về động vật đáy trong rừng ngập mặn huyện Giao Thuỷ. Trong: Phan Nguyên Hồng (chủ biên) Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng: Đa dạng sinh học, sinh thái học, kinh tế – xã hội - quản lý và giáo dục. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2004: 67-74.

Odum, W.E., J.C. Zieman and E.J. Heald, 1972. The importance of vascular plant detritus to estuarine. In: R.H. Chabreck (ed.) Proceedings of the 2nd marsh and estuarine management symposium. Baton Rouge, Lousiana State University: 91-114.

Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng II, tp Hồ Chí Minh, 1995. Công cụ qui hoạch phát triển kinh tế lâm nghiệp vùng sinh thái trọng điểm cửa sông Cửu Long: 25-31; 146-155.

Quỹ văn xã công lý môi trường (EJF), 2003. Một nghề còn lắm bất trắc - Ngành nuôi tôm Việt Nam: tác động và cải thiện. Người dịch: Nguyễn Văn Thanh. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2003.

Ross, Phillip, 1975. The mangrove of south Vietnam. The impact of military use of herbicides. In: Proceedings of the internation symposium on biology and management of mangroves. V.2: 708-718.

Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Ngọc Bình, Ngô Đình Quế, Vũ Tấn Phương, 2005. Tổng quan rừng ngập mặn Việt Nam. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.

Sở Kinh tế Đối ngoại Hải Phòng, 1996. Đánh giá tác động môi trường của khu công nghiệp Đình Vũ – Hải Phòng: 28-36.

Snedaker, S.C., 1978. Les mangroves: Leur intérét et leur consevation. Nature et Resources. Vol. XIV. No 3. UNESCO: 10-14.

Snedaker, S.C., 1982. Mangrove species zonation: Why? Task for vegetation science. Vol. 2: 112-120.

Vũ Trung Tạng, 1984. Nghiên cứu bước đầu về khu hệ cá rừng ngập mặn huyện Minh Hải. Trong: Hội thảo quốc gia lần thứ nhất về hệ sinh thái rừng ngập mặn. Hà Nội, 27-28/12/1984. Đại học Sư phạm Hà Nội. Tập 2: 310-316.

Vũ Trung Tạng, 1994. Các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam. NXB KHKT, Hà Nội: 272tr.

Vũ Trung Tạng, 2004. Nghiên cứu đa dạng sinh học vùng RNM. Báo cáo Hợp phần RNM Dự án Ngăn ngừa xu hướng suy thoái biển Đông và vịnh Thái Lan. UNEP/ Viện Khoa học Lâm nghiệp.

Đặng Trung Tấn, 2003. RNM Cà Mâu. Báo cáo Hợp phần RNM Dự án Ngăn ngừa xu hướng suy thoái biển Đông và vịnh Thái Lan. UNEP/ Viện Khoa học Lâm nghiệp.

Đào Văn Tấn, Mai Sỹ Tuấn, Phan Hồng Anh, Trần Mai Sen, 2005. Hiện trạng hệ sinh thái RNM được trồng và phục hồi tại hai huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá và Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Báo cáo dự án "Hiện trạng và hiệu quả của việc phục hồi RNM đối với cuộc sống người dân vùng ven biển hai huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá và Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. MERD/JRC/IFRC. Hà Nội: 65-76.

Vũ Đoàn Thái, 2005. Bước đầu nghiên cứu khả năng chắn sóng, bảo vệ bờ biển trong bão qua một số cấu trúc RNM trồng ven biển Hải Phòng. Trong: Phan Nguyên Hồng, Hoàng Thị Sản, Nguyễn Duy Minh (eds) Tuyển tập hội thảo vai trò của HSTRNM và rạn san hô trong việc giảm nhẹ tác động của đại dương đến môi trường. Hà Nội, 8-10/10/2005.

Trần Đức Thạnh, Phí Kim Trung, Nguyễn Đức Cự, 1985. Nghiên cứu đặc điểm điều kiện tự nhiên và tiềm năng nguồn lợi ở ven biển miền bắc Việt Nam - Biện pháp để sử dụng hợp lý và phát triển. Báo cáo tổng kết dề tài Nhà nước 48 B-05-02.

Hoàng Văn Thơi, 2005. `Nghiên cứu cấu trúc rừng và mối liên hệ giữa phân bố thảm thực vật ngập mặn với tần suất ngập triều tại rừng ngập mặn Cà Mau. Trong: Phan Nguyên Hồng, Hoàng Thị Sản, Nguyễn Duy Minh (chủ biên) Vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn và rạn san hô trong việc giảm nhẹ tác động của đại dương đến môi trường. MERD/SEF/IUCN: 253-262.

Nguyen Huu Tho, Phan Hong Anh, 2003. Seed crab benefits to local people in planted mangroves area. In: Phan Nguyen Hong, Quan Thi Quynh Dao, Tran Van Ba (eds.). Proceedings of the scientific wworkshop "Results of scientific research and awareness raising for local people communities in the mangrove areas of Nam Dinh and Thai Binh provinces", Hanoi, 23-34/12/2003. Agricultural Publishing House, Hanoi, 2003: 197-200.

Nguyễn Văn Thôn, Lâm Bỉnh Lợi, 1972. Rừng ngập nước Việt Nam. Nha Thuỷ lâm Sài Gòn: 48-52.

Lê Đình Thuỷ, 2004. Tài nguyên chim ở Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ. Trong: Phan Nguyên Hồng (chủ biên) Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng: Đa dạng sinh học, sinh thái học, kinh tế – xã hội - quản lý và giáo dục. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2004: 117-120.

Phạm Ngọc Toàn, Phạm Tất Đắc, 1978. Khí hậu Việt Nam. NXB Khoa học Kỹ thuật: 193-258.

Nguyễn Hoàng Trí, 1986. Góp phần nghiên cứu sinh khối và năng suất quân xã rừng đước đôi (Rhizophora apiculata) ở Cà Mâu – tỉnh Minh Hải. Luận án phó tiến sĩ sinh học.

Tran Thi Trinh, 1998. The social-economic situation of women in the coastal mangrove areas of Ba Ria-Vung Tau Province, their living standard and enviroment. In : P.N.Hong, H.T.San, P.T.A.Dao (eds). Proceedings of the national workshop "Social-economic status of women in coastal mangrove areas - Trends to improve their life and environment". Hanoi, 31 Oct - 4 Nov, 1997. Agricultural Publishing House (APH), Hanoi : 80-82.

Thái Văn Trừng, 1970. Thảm thực vật rừng Việt Nam. NXB Khoa học Kỹ thuật: 188-192.

Le Duc Tuan, 1998. Women role in mangrove plantation and protection in Can Gio. In : P.N.Hong, H.T.San, P.T.A.Dao (eds). Proceedings of the national workshop "Social - economic status of women in coastal mangrove areas- Trends to improve their life and environment". Hanoi, 31 Oct - 4 Nov, 1997. Agricultural Publishing House (APH), Hanoi :  83-87.

Ty Lâm nghiệp Đồng Nai, 1981. Báo cáo về tình hình phục hồi rừng sau 5 năm giải phóng. 6 trang.

Ty Lâm nghiệp Minh Hải, 1981. Đánh giá kết quả 10 năm trồng cây gây rừng hưởng ứng tết trồng cây gây rừng của Hồ Chủ tịch (roneo) : 5 pp.

Ty Lâm ngiệp Bến Tre, 1981. Báo cáo về tình hình phục hồi rừng trên vùng bị rải chất độc hoá học của Mỹ ở tỉnh Bến Tre. 6 trang(đánh máy).

V.Q. Viet, 1993. Báo cáo hiện trạng nước bề mặt huyện Cần Giờ. Báo cáo tổng kết dự án số 69/MT: Môi trường huyện Cần Giờ. Phòng Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh: 7-8.

Đang Bich Viet, 1999. Resource utilization of the coastal mangrove ecosystem in Tra Vinh Province. In : P.N.Hong (ed). Proceedings of the national workshop "Sustainable and economically efficient utilization of resources in the mangrove ecosystem", Nha Trang City, 1-3 Nov. 1998. Agricultural Publishing House (APH),

Nguyễn Văn Vinh, 1998. Báo cáo thường niên đề án RNM của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam giai đoạn 1997-2001: 5pp.

Viện Điều tra Qui hoạch rừng (FIPI), 2001. Báo cáo kết quả điều tra rừng toàn quốc theo quyết định số 03/2001 QĐ/TTG của Thủ tướng Chính phủ kí ngày 5/1/2001.


 

(1) RNM ở xã Vinh Quang – Tiên Lãng do ACTMANG hỗ trợ kinh phí và Hội Phụ nữ huyện tổ chức trồng

(2) RNM ở Bàng La do Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản hỗ trợ kinh phí, Hội Chữ thập đỏ thành phố Hải Phòng là cơ quan chỉ đạo và quản lý

“Hạt” đào lộn hột mà ta thường gọi là quả chính thức, còn phần “quả” giống hình quả roi (mận) là cuống quả phình to lên.